Thị đe
Tổng quan & Dược lý
Tên gọi, danh pháp
Tên khoa học: Diospyros kaki Thunb.
Tên gọi khác:Thị đế; Hồng; Thị đinh; Hồng thị; Mác pháp; Mạy chí.
Họ: Ebenaceae (Thị).
Đặc điểm tự nhiên
Cây
Thị đe hình dáng tương tự như cây táo, có kích thước lên tới 10 mét (33 ft). Những chiếc lá của nó có màu xanh lục từ trung bình đến đậm, hình mác rộng, cứng và dài bằng nhau.
Bông hoa
Những bông hoa rộng từ 2,0 đến 2,5 cm (0,8 đến 1,0 inch) và xuất hiện vào cuối mùa xuân hoặc đầu mùa hè, tùy thuộc vào giống và khu vực trồng trọt.
Hoa hình ống có màu trắng kem. Những bông hoa có bốn lá đài hình vương miện và bốn cánh hoa tạo thành một đài hoa lớn. Hoa cái mọc đơn lẻ, trong khi hoa đực đôi khi có thể có màu hồng và có xu hướng xuất hiện trong các cụm ba.
Quả
Quả Thị đe là một loại trái cây có vị ngọt, hơi thơm với kết cấu mềm và thỉnh thoảng có xơ. Loài cây này có nguồn gốc từ Trung Quốc, là loài rụng lá, với các lá rộng và cứng.
Khi chín, quả bao gồm lớp thạch dày mịn được bao bọc trong một lớp vỏ mỏng như sáp. Quả hình cầu đến hình bầu dục, có cuống lõm và 4 lá đài, có thể nặng tới 500 gam (18 oz). Vỏ mỏng mịn, sáng bóng, có màu từ vàng đến đỏ cam.
Quả thị đe có thể chứa tới 8 hạt và có thể có vị chát. Khi độ chín ngày càng tăng, trái cây sẽ mềm đi. Quả thị đe chín khi lá đã rụng gần hết trên cây, thường vào tháng 10 và tháng 11.
Chi tiết trồng trọt
Đây là loài thực vật của vùng ôn đới ấm áp và cận nhiệt đới, nó cũng trồng được ở độ cao cao hơn lên đến 2.500 mét ở vùng nhiệt đới
Nó phát triển tốt nhất ở những khu vực có lượng mưa phân bố tốt, mặc dù nó có khả năng chịu đựng đáng kinh ngạc ở những khu vực bán khô hạn với lượng mưa ít nhất là 300mm, cũng như ở những khu vực ẩm ướt với lượng mưa lên đến 3.000mm
Phân bố, thu hái, chế biến
Phân bố
Nó được trồng lần đầu tiên ở Trung Quốc hơn 2000 năm trước, và du nhập vào Nhật Bản vào thế kỷ thứ 7 và đến Hàn Quốc vào thế kỷ thứ 14. Sau đó, nó được giới thiệu đến California và miền nam châu Âu vào thế kỷ 19, đến Brazil vào những năm 1890.
Hiện nay, Thị đe được trồng trên toàn thế giới, với 90% tổng số ở Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc.
Thu hoạch, chế biến
Ở Đông Á, thời gian thu hoạch Thị đe là vào các tháng 10 và 11. Cây rụng lá theo thời gian thu hoạch,
Ở Anh, trái cây cần được thu hoạch khi nó vẫn còn rất cứng. Điều này được thực hiện rất muộn vào mùa vụ (vào tháng 12 hoặc thậm chí tháng 1 nếu có thể), sau đó nó được bảo quản ở nơi mát mẻ cho đến khi mềm và chín hoàn toàn.
Bộ phận sử dụng
Quả Thị đe xanh hoặc chín. Tai Thị đe là thị đế, phơi hay sấy khô. Còn dùng vỏ thân, vỏ rễ.

Quả thị đe
Liều lượng & Cách dùng
Mỗi ngày có thể ăn từ 10 – 20 g Thị đe chín, nếu ăn mứt Thị đe thì ăn khoảng 2 – 3 quả.
Thận trọng khi sử dụng
Quả Thị đe mặc dù rất bổ nhưng không phải ai sử dụng cũng tốt. Theo đông y, người tỳ vị hư hàn, có đàm thấp bên trong, tiêu chảy, đang bị cảm lạnh không được ăn Thị đe. Không ăn Thị đe sau khi ăn món tôm và cua.
Khi đói không nên ăn quá nhiều Thị đe, nhất là Thị đe chưa chín kĩ. Vì một số thành phần trong quả Thị đe có thể kết hợp với dịch vị tạo thành những chất kết tủa.