Thiên thảo
Tổng quan & Dược lý
Tên gọi, danh pháp
Tên Tiếng Việt: Thiên thảo.
Tên khác: Cỏ cứt lợn, sơn kiểm, phòng phong thảo, thổ hoắc hương, kiếm, san nga (Luang Prabang), Indian catmint (Anh).
Tên khoa học: Anisomeles indica (L.) O. Kize, Anisomeles ovata R. Br. Thuộc họ Hoa môi Lamiaceae (Labiatae).

Thiên thảo trong tự nhiên
Đặc điểm tự nhiên
Thiên thảo là một loại cây thảo, sống lâu năm, cao khoảng từ 0.70 đến 1.20m. Thân vuông, mọc đứng, có nhiều lông nhất là ở ngọn và trên các cạnh. Lá mọc đối, hình bầu dục hoặc hình trứng, dài khoảng 7 đến 15cm, rộng khoảng 3 đến 6cm, gốc tròn, đầu nhọn, mép khía răng, hai mặt đều có lông dày, cuống lá dài 1 - 5cm.
Cụm hoa mọc ở kẽ lá thành nhiều vòng rất sít nhau. Lá mọc ở cụm hoa giống với lá thường, lá bắc hình mác hẹp. Hoa không cuống, màu hồng hoặc đỏ tía, đài hình chuông có 5 răng đều, tràng có ống ngắn chia 2 môi, môi trên rộng chia 3 thuỳ, thuỳ giữa lớn hơn, môi dưới ngắn, nhị 4.
Quả bế gồm 4 quả hạch con, hình trứng dài và nhẵn.
Mùa hoa quả: Tháng 12 - 3.

Cụm hoa thiên thảo
Phân bố, thu hái, chế biến
Anisomeles ovata R. Br. là một chi nhỏ trong họ Lamiaceae, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới. Ở vùng Đông Nam Á, có khoảng 6 đến 7 loài, Ấn Độ có 4 loài. Ở Việt Nam mới chỉ có một loài là cỏ thiên thảo. Cây phân bố chủ yếu ở vùng núi và trung du, độ cao dưới 1000m.
Cỏ thiên thảo ưa ẩm và ưa sáng, thường mọc ở nương rẫy và thung lũng. Ở vùng Yên Bái, Tuyên Quang đôi khi cỏ thiên thảo mọc lẫn với ngô, đậu ở bãi sông. Cây con mọc từ hạt xuất hiện vào cuối mùa xuân hoặc đầu mùa hè. Đến mùa thu, đã có quả già và cây sắp tàn lụi. Cây ra hoa quả nhiều. Hạt phát tán gần và trồng được dễ dàng bằng hạt.
Bộ phận sử dụng
Bộ phận có thể sử dụng được của cây thiên thảo là toàn cây.
Liều lượng & Cách dùng
Ngày dùng 20 - 40g cỏ thiên thảo, sắc uống hoặc xông.