Thông tin hoạt chất y học

Xích thược (Rễ)

Dạng bào chế & Đóng gói:Dược liệu

Tổng quan & Dược lý

Tên gọi, danh pháp

Tên Tiếng Việt: Xích thược.

Tên khác: Thược dược, xuyên xích thược, mẫu đơn đỏ.

Tên khoa học: Paeonia veitchii Lynch, thuộc họ Hoàng liên (Ranunculaceae).

Đặc điểm tự nhiên

Xích thược là loại thực vật thân thảo, sống lâu năm, chiều cao trung bình trong khoảng từ 50 - 80cm. Lá cây là lá kép lông chim, mọc so le, màu xanh. Mỗi một lá có thể phân thành 9 đến 12 phần không đều nhau, hình giáo, nhọn ở đầu, cuống có màu hơi hồng.

Hoa xích thược thường mọc đơn, một bông, không tạo chùm. Hoa kích thước lớn có khoảng 8 cánh, hương tựa như hoa hồng. Mỗi cây xích thược có thể có từ 1 đến 7 hoa, khi hoa chưa nở có màu hồng nhạt, sau có thẻ chuyển dần sang màu trắng, bao chứa phấn màu da cam.

Phân bố, thu hái, chế biến

Xích thược có nguồn gốc ở vùng Đông á gồm Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản. Tại Việt Nam, xích thược được trồng từ khoảng năm 1970 tại Sa Pa. Cây chủ yếu thích sống ở vùng cao có khí hậu mát mẻ, phát triển ở các bụi cây hoặc ở các tán cây to.

Thông thường cây xích thược được thu hoạch vào khoảng tháng 6 đến tháng 10 hàng năm. Cây được đào rễ, bỏ phần rễ con, gọt vỏ sau đó rửa sạch.

Tùy theo từng khu vực mà có thể có cách chế biến xích thược khác nhau, cần chú ý không phơi rễ Xích thược ngoài nắng gắt hay sấy ở nhiệt độ cao có thể khiến rễ bị gãy, cong queo.

Cách bào chế xích thược có thể gồm:

  • Nấu chín sau đó phơi hoặc sấy.
  • Nấu rễ đến khi chín và phơi khô, sau đó tẩm nước cho mềm và tiếp tục phơi nắng cho dược liệu khô.
  • Rửa sạch, ủ mềm rồi bào mỏng, có thể dùng tươi hoặc khô.
  • Ủ mềm, thái mỏng và phơi khô, sau đó tẩm rượu hoặc giấm rồi đem sao để sử dụng.

Xích thược: Vị thuốc giúp thanh nhiệt lương huyết 1

Cây xích thược

Bộ phận sử dụng

Bộ phận sử dụng được của xích thược là rễ, với tên khoa học là Radix Paeoniae rubrae.

Liều lượng & Cách dùng

Liều dùng có thể từ 6 - 12g, hoặc tùy theo chỉ định của bác sĩ tùy theo từng đối tượng bệnh. Có thể sắc uống dạng tươi hoặc khô, tùy bệnh lý có thể dùng dạng tán bột hoặc thoa ngoài da.