Giao

Số đăng ký / SKUgiao
Dạng bào chếDược liệu

Giao có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới Châu Phi và hiện nay được trồng ở khắp các vùng nhiệt đới khác. Ở khu vực Đông Nam Á, Giao có ở Indonesia, Philippin, Malaysia, Thái Lan, Lào, Campuchia. Giao có công dụng chữa táo bón, liệt dương, bệnh ngoài da, đau răng, tê thấp, hắc lào (cả cây).

Chưa có hình ảnh

Thành phần Cây Giao: Dược liệu quý có mặt trong nhiều bài thuốc Đông y cổ truyền

Hoạt chấtHàm lượng / Nồng độ

Công dụng Cây Giao: Dược liệu quý có mặt trong nhiều bài thuốc Đông y cổ truyền

Theo y học cổ truyền

Toàn cây có tính mát, vị cay, hơi chua và hơi có độc. Cả cây có tác dụng tiêu viêm, giải độc, thúc sữa, sát trùng, khử phong. Nhựa cây rất độc, để dính vào mắt có thể làm mù; nhựa còn gây phồng làm nóng đỏ, tẩy xổ và chống kích thích. Để ngoài ánh nắng mặt trời, nhựa cây sẽ khô đặc lại và khi ngâm trong nước sẽ cho loại nhựa như cao su.

Ở một số nước Đông Nam Á, thuốc đắp từ cành hoặc vỏ cây giao được dùng để trị gãy xương.

Ở Malaysia, dùng thuốc đắp từ cành cây hay rễ giã nát để trị sưng tấy, loét mũi và trĩ. Rễ nạo nhỏ, tròn với dầu dừa, uống trị đau dạ dày. Cao chiết từ cây có tác dụng kháng sinh.

Ở Indonesia, nhựa mủ cây giao được phết lên chân tay bị gãy để làm chất đỡ khi khô cứng lại.

Ở Ấn Độ, nhựa mủ đắp tại chỗ trị mụn cóc, thấp khớp, đau dây thần kinh, đau răng. Ngoài ra, giao còn dùng trị đau tai, ho, hen; với liều nhỏ cho tác dụng tẩy và với liều lớn cho tác dụng kích thích, gây nôn. Nước sắc từ rễ và cành non của giao được dùng trị đau dạ dày và đau bụng. Tro cây giao được dùng để làm vỡ áp xe.

Ở Madagascar, nhựa mủ cây giao được dùng để gây nôn và làm thuốc bả cá do có độc tính khi dùng quá liều.

Ở Tây Phi, nhựa mủ bôi chữa mụn cóc, thấp khớp và đau dây thần kinh.

Theo y học hiện đại

Tác dụng ức chế vi khuẩn: Cao ethanol của cành cây giao cho tác động ức chế trên vi khuẩn Staphylococcus aureus và Bacillus subtilis.

Tác dụng ức chế thần kinh trung ương: Thí nghiệm trên động vật sử dụng cao ethanol của lá cây, thân non, nhựa mủ cây giao, kết quả cho thấy giao có tác động chống co giật, ức chế thần kinh trung ương và giảm đau.

Cao cây giao có tác dụng làm tăng sự hoạt hóa các hệ gen tiềm tàng của virus Epstein – Barr (EBV) trong những nguyên bào lympho người gây bởi EBV và cả trên sự biến đổi tế bào lympho người gây bởi EBV.

Nước và đất lấy ở xung quanh cây có thể gây nguy hiểm cho người vì cũng cho tác dụng làm tăng sự hoạt hóa trên. Những diterpen ester dẫn chất của các resiniferonol, alcol ingenol và phorbol có trong nhựa mủ cây giao là những chất kích thích và gây ung thư.

Cách dùng Cây Giao: Dược liệu quý có mặt trong nhiều bài thuốc Đông y cổ truyền

Cành và rễ cây giao dùng dưới dạng thuốc sắc; nhựa thường dùng bôi ngoài da.

Nội dung Y tế Được Kiểm Duyệt
Trần Huỳnh Minh Nhật
Dược sĩ Đại học Trần Huỳnh Minh NhậtGiảng viên Trung tâm Đào tạo FPT Long Châu

Dược sĩ chuyên khoa Dược lý - Dược lâm sàng. Tốt nghiệp 2 trường đại học Mở và Y Dược TP. Hồ Chí Minh. Có kinh nghiệm nghiên cứu về lĩnh vực sức khỏe, đạt được nhiều giải thưởng khoa học. Hiện là Dược sĩ chuyên môn phụ trách xây dựng nội dung và triển khai dự án đào tạo - Hội đồng chuyên môn tại Nhà thuốc Long Châu.

Nguồn dữ liệu: nhathuoclongchau

(*) Thông tin trên chỉ mang tính chất tham khảo. Vui lòng luôn tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc chuyên gia y tế để được tư vấn chính xác cho tình trạng sức khỏe cụ thể của bạn.