HTP-Encémin

Số đăng ký / SKUVD-11685-10
Nhà sản xuấtCông ty cổ phần Dược phẩm Sao Kim
Dạng bào chế
Quy cáchHộp 3 vỉ x 10 viên nén bao phim

Chỉ định - Xuất huyết dưới màng nhện & thiếu máu cục bộ. - Rối loạn thần kinh, tâm thần sau di chứng có suy giảm tuần hoàn & quá trình thoái hoá nguyên phát. Chống chỉ định Bệnh nhân suy gan trầm t...

Chưa có hình ảnh

Thành phần HTP-Encémin

Hoạt chấtHàm lượng / Nồng độ
Nimodipine-

Công dụng HTP-Encémin

Nimodipine dạng uống: Liều lượng: Ðiều trị suy giảm chức năng não lúc tuổi già: Liều hàng ngày khuyến cáo là 3x1 viên bao Nimodipine (3x30mg nimodipine). Trong rối loạn chức năng thận trầm trọng, tác dụng chính của thuốc và tác dụng ngoại ý như giảm huyết áp có thể biểu hiện rõ rệt hơn: Trong những trường hợp như vậy, nếu cần thiết, nên giảm liều theo tình trạng huyết áp và kết quả điện tâm đồ. Dự phòng và điều trị khuyết tật thần kinh do thiếu máu cục bộ sau khi xuất huyết dưới nhện: Phác đồ khuyến cáo là truyền dịch truyền Nimodipine trong 5-14 ngày, sau đó uống mỗi ngày 6x2 viên bao Nimodipine (6x60mg nimodipine). Trong rối loạn chức năng thận hay gan trầm trọng, đặc biệt khi có xơ gan, tác dụng chính của thuốc và tác dụng ngoại ý như giảm huyết áp có thể biểu hiện rõ rệt hơn; trong những trường hợp như vậy, nếu cần thiết, nên giảm liều theo tình trạng huyết áp và kết quả điện tâm đồ. Cách dùng: Nói chung, nên nuốt trọn viên bao Nimodipine với nước, không cần phải lưu ý đến việc cách xa bữa ăn. Thời gian giữa hai lần dùng thuốc không nên dưới 4 giờ. Nimodipine dạng truyền tĩnh mạch: Liều lượng: Truyền tĩnh mạch: Khởi đầu trị liệu truyền 1mg nimodipine (= 5ml dịch truyền Nimodipine/giờ) trong vòng 2 giờ (khoảng 15mcg/kg thể trọng/giờ). Nếu liều này được dung nạp tốt, và đặc biệt nếu huyết áp không giảm đáng kể, sau 2 giờ gia tăng liều đến 2mg nimodipine (= 10ml dịch truyền Nimodipine/giờ) (khoảng 30mcg/kg thể trọng/giờ). Bệnh nhân có thể trọng thấp hơn nhiều so với 70kg hay có huyết áp không ổn định nên bắt đầu với liều 0,5mg nimodipine (= 2,5ml dịch truyền Nimodipine/giờ). Nhỏ giọt vào khoang dưới nhện: 20ml dịch truyền Nimodipine pha loãng: 1ml dịch truyền Nimodipine và 19ml dung dịch Ringer. Phải sử dụng ngay sau khi pha. Trên bệnh nhân bị tác dụng ngoại ý, khi cần thiết nên giảm liều hay ngưng thuốc. Suy gan nặng, đặc biệt là xơ gan, có thể dẫn đến sự gia tăng sinh khả dụng của Nimodipine do giảm khả năng chuyển hóa đầu tiên tại gan và giảm thanh thải chuyển hóa. Tác dụng chính của thuốc và tác dụng ngoại ý như giảm huyết áp có thể biểu hiện rõ rệt hơn. Trong những trường hợp như vậy, nếu có thể được nên giảm liều theo tình trạng huyết áp; nếu cần thiết, nên xem xét đến việc ngưng thuốc. Cách sử dụng: Dịch truyền Nimodipine được sử dụng bằng cách tiêm truyền tĩnh mạch nhỏ giọt qua một catheter trung tâm bằng một bơm tiêm. Nên cho thuốc qua một khóa vòi ba chiều cùng lúc với hoặc dung dịch glucose 5%, sodium chloride 0,9%, dung dịch lactate Ringer, dung dịch lactate Ringer với magnesium, dung dịch Dextran 40 hay HAES `poly(O-2-hydroxyethyl` tinh bột 6% trong tỷ lệ khoảng 1:4 của Nimodipine: dịch truyền pha chung). Mannitol, albumin người hay máu cũng thích hợp để truyền chung. Không được cho dịch truyền Nimodipine vào một bao hay chai dịch truyền và không được trộn lẫn với các thuốc khác. Nên tiếp tục truyền Nimodipine trong khi gây mê, phẫu thuật và chụp X quang mạch máu. Nên sử dụng một khóa vòi ba chiều để gắn kết ống Nimodipine với đường dịch truyền sử dụng đồng thời và catheter trung tâm. Thời gian truyền dịch: Dự phòng: Xuất huyết dưới nhện do phình mạch: Nên bắt đầu truyền tĩnh mạch trong vòng 4 ngày sau khi xuất huyết và tiếp tục trong suốt giai đoạn nguy cơ co thắt mạch lớn nhất, nghĩa là cho đến 10-14 ngày sau khi xuất huyết dưới nhện. Nếu trong quá trình sử dụng Nimodipine để dự phòng, nguyên nhân xuất huyết được điều trị bằng phẫu thuật, nên tiếp tục truyền Nimodipine sau phẫu thuật ít nhất 5 ngày. Sau khi kết thúc tiêm tuyền, nên tiếp tục uống 6 x 60mg nimodipine mỗi ngày với khoảng cách 4 giờ trong khoảng 7 ngày sau đó. Ðiều trị: Xuất huyết dưới nhện do phình mạch: - Nếu các rối loạn thần kinh do thiếu máu cục bộ do co thắt mạch sau khi đã có sẵn xuất huyết dưới nhện, nên bắt đầu càng sớm càng tốt và tiếp tục ít nhất 5 ngày cho đến tối đa là 14 ngày. - Sau đó, nên uống 6x60mg nimodipine mỗi ngày với khoảng cách 4 giờ trong 7 ngày. Nếu trong quá trình dùng Nimodipine để dự phòng hay điều trị, nguyên nhân xuất huyết được điều trị bằng phẫu thuật, nên tiếp tục truyền Nimodipine sau phẫu thuật ít nhất 5 ngày. Nhỏ giọt vào khoảng dưới nhện: Xuất huyết dưới nhện do phình mạch: Trong quá trình phẫu thuật, có thể truyền nhỏ giọt vào khoảng dưới nhện dung dịch Nimodipine vừa mới pha loãng (1 ml dịch truyền Nimodipine và 19 ml dung dịch Ringer) làm ấm đến nhiệt độ máu. Phải sử dụng dung dịch pha loãng Nimotop ngay sau khi pha chế.

Cách dùng HTP-Encémin

Nimodipine dạng uống: Liều lượng: Ðiều trị suy giảm chức năng não lúc tuổi già: Liều hàng ngày khuyến cáo là 3x1 viên bao Nimodipine (3x30mg nimodipine). Trong rối loạn chức năng thận trầm trọng, tác dụng chính của thuốc và tác dụng ngoại ý như giảm huyết áp có thể biểu hiện rõ rệt hơn: Trong những trường hợp như vậy, nếu cần thiết, nên giảm liều theo tình trạng huyết áp và kết quả điện tâm đồ. Dự phòng và điều trị khuyết tật thần kinh do thiếu máu cục bộ sau khi xuất huyết dưới nhện: Phác đồ khuyến cáo là truyền dịch truyền Nimodipine trong 5-14 ngày, sau đó uống mỗi ngày 6x2 viên bao Nimodipine (6x60mg nimodipine). Trong rối loạn chức năng thận hay gan trầm trọng, đặc biệt khi có xơ gan, tác dụng chính của thuốc và tác dụng ngoại ý như giảm huyết áp có thể biểu hiện rõ rệt hơn; trong những trường hợp như vậy, nếu cần thiết, nên giảm liều theo tình trạng huyết áp và kết quả điện tâm đồ. Cách dùng: Nói chung, nên nuốt trọn viên bao Nimodipine với nước, không cần phải lưu ý đến việc cách xa bữa ăn. Thời gian giữa hai lần dùng thuốc không nên dưới 4 giờ. Nimodipine dạng truyền tĩnh mạch: Liều lượng: Truyền tĩnh mạch: Khởi đầu trị liệu truyền 1mg nimodipine (= 5ml dịch truyền Nimodipine/giờ) trong vòng 2 giờ (khoảng 15mcg/kg thể trọng/giờ). Nếu liều này được dung nạp tốt, và đặc biệt nếu huyết áp không giảm đáng kể, sau 2 giờ gia tăng liều đến 2mg nimodipine (= 10ml dịch truyền Nimodipine/giờ) (khoảng 30mcg/kg thể trọng/giờ). Bệnh nhân có thể trọng thấp hơn nhiều so với 70kg hay có huyết áp không ổn định nên bắt đầu với liều 0,5mg nimodipine (= 2,5ml dịch truyền Nimodipine/giờ). Nhỏ giọt vào khoang dưới nhện: 20ml dịch truyền Nimodipine pha loãng: 1ml dịch truyền Nimodipine và 19ml dung dịch Ringer. Phải sử dụng ngay sau khi pha. Trên bệnh nhân bị tác dụng ngoại ý, khi cần thiết nên giảm liều hay ngưng thuốc. Suy gan nặng, đặc biệt là xơ gan, có thể dẫn đến sự gia tăng sinh khả dụng của Nimodipine do giảm khả năng chuyển hóa đầu tiên tại gan và giảm thanh thải chuyển hóa. Tác dụng chính của thuốc và tác dụng ngoại ý như giảm huyết áp có thể biểu hiện rõ rệt hơn. Trong những trường hợp như vậy, nếu có thể được nên giảm liều theo tình trạng huyết áp; nếu cần thiết, nên xem xét đến việc ngưng thuốc. Cách sử dụng: Dịch truyền Nimodipine được sử dụng bằng cách tiêm truyền tĩnh mạch nhỏ giọt qua một catheter trung tâm bằng một bơm tiêm. Nên cho thuốc qua một khóa vòi ba chiều cùng lúc với hoặc dung dịch glucose 5%, sodium chloride 0,9%, dung dịch lactate Ringer, dung dịch lactate Ringer với magnesium, dung dịch Dextran 40 hay HAES `poly(O-2-hydroxyethyl` tinh bột 6% trong tỷ lệ khoảng 1:4 của Nimodipine: dịch truyền pha chung). Mannitol, albumin người hay máu cũng thích hợp để truyền chung. Không được cho dịch truyền Nimodipine vào một bao hay chai dịch truyền và không được trộn lẫn với các thuốc khác. Nên tiếp tục truyền Nimodipine trong khi gây mê, phẫu thuật và chụp X quang mạch máu. Nên sử dụng một khóa vòi ba chiều để gắn kết ống Nimodipine với đường dịch truyền sử dụng đồng thời và catheter trung tâm. Thời gian truyền dịch: Dự phòng: Xuất huyết dưới nhện do phình mạch: Nên bắt đầu truyền tĩnh mạch trong vòng 4 ngày sau khi xuất huyết và tiếp tục trong suốt giai đoạn nguy cơ co thắt mạch lớn nhất, nghĩa là cho đến 10-14 ngày sau khi xuất huyết dưới nhện. Nếu trong quá trình sử dụng Nimodipine để dự phòng, nguyên nhân xuất huyết được điều trị bằng phẫu thuật, nên tiếp tục truyền Nimodipine sau phẫu thuật ít nhất 5 ngày. Sau khi kết thúc tiêm tuyền, nên tiếp tục uống 6 x 60mg nimodipine mỗi ngày với khoảng cách 4 giờ trong khoảng 7 ngày sau đó. Ðiều trị: Xuất huyết dưới nhện do phình mạch: - Nếu các rối loạn thần kinh do thiếu máu cục bộ do co thắt mạch sau khi đã có sẵn xuất huyết dưới nhện, nên bắt đầu càng sớm càng tốt và tiếp tục ít nhất 5 ngày cho đến tối đa là 14 ngày. - Sau đó, nên uống 6x60mg nimodipine mỗi ngày với khoảng cách 4 giờ trong 7 ngày. Nếu trong quá trình dùng Nimodipine để dự phòng hay điều trị, nguyên nhân xuất huyết được điều trị bằng phẫu thuật, nên tiếp tục truyền Nimodipine sau phẫu thuật ít nhất 5 ngày. Nhỏ giọt vào khoảng dưới nhện: Xuất huyết dưới nhện do phình mạch: Trong quá trình phẫu thuật, có thể truyền nhỏ giọt vào khoảng dưới nhện dung dịch Nimodipine vừa mới pha loãng (1 ml dịch truyền Nimodipine và 19 ml dung dịch Ringer) làm ấm đến nhiệt độ máu. Phải sử dụng dung dịch pha loãng Nimotop ngay sau khi pha chế.

Tác dụng phụ HTP-Encémin

- Tác dụng trên đường tiêu hóa: buồn nôn, viêm loét dạ dày tá tràng, đôi khi bị liệt ruột (rối loạn vận động ruột do liệt ruột). - Tác dụng trên hệ thần kinh: chóng mặt, nhức đầu. - Tác dụng trên hệ tim mạch: huyết áp giảm đáng kể, đặc biệt khi các trị số ban đầu tăng cao, bừng mặt, đổ mồ hôi, cảm giác ấm hay nóng, giảm nhịp tim (tim chậm) hay hiếm hơn là gia tăng nhịp tim (tim nhanh). - Tác dụng trên máu và các thành phần của máu: rất hiếm khi có giảm tiểu cầu. - Ảnh hưởng lên các thông số xét nghiệm. - Tăng transaminase, phosphatase kiềm và g-glutamyl-transferase (g-GT), suy thận cùng với gia tăng urea huyết thanh và/hoặc creatinine và ngoại tâm thu. Nên lưu ý trong suốt quá trình điều trị với Nimodipine dạng truyền tĩnh mạch rằng thuốc chứa 23,7% thể tích cồn (200 mg cồn trong 1 ml dung dịch) và 17% polyethylene glycole 400. - Phản ứng tại chỗ: viêm tĩnh mạch (do tiêm truyền dung dịch truyền Nimodipine không pha loãng vào tĩnh mạch ngoại vi). Ảnh hưởng lên khả năng lái xe: Nói chung, khả năng lái xe và thao tác máy móc bị suy giảm do có thể bị chóng mặt. Trong trường hợp dùng dịch truyền Nimotop, ảnh hưởng này nói chung là không quan trọng.

Nguồn dữ liệu: thuocbietduoc

(*) Thông tin trên chỉ mang tính chất tham khảo. Vui lòng luôn tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc chuyên gia y tế để được tư vấn chính xác cho tình trạng sức khỏe cụ thể của bạn.