Lá lốt (Lá)
Khi nghe đến lá Lốt, người ta thường liên tưởng đến các món ăn ngon miệng được chế biến từ lá Lốt. Từ rất lâu, con người đã biết và sử dụng lá Lốt như một loại nguyên liệu và gia vị quen thuộc, được kết hợp trong công thức các món ăn hấp dẫn và có nhiều giá trị về dinh dưỡng.
Thành phần Lá lốt: Vừa là loại rau, vừa là vị thuốc trong vườn nhà
| Hoạt chất | Hàm lượng / Nồng độ |
|---|
Công dụng Lá lốt: Vừa là loại rau, vừa là vị thuốc trong vườn nhà
Tác dụng của lá lốt theo y học cổ truyền
Lá Lốt theo y học cổ truyền có tính ẩm, vị cay, nhờ vào tính vị như vậy lá Lốt có tác dụng trừ hàn, giảm đau, cầm nôn, hỗ trợ tiêu hóa. Trong dân gian người ta thường dùng lá Lốt để làm thuốc sắc uống điều trị đau xương khớp, tay chân tê thấp, đổ mồ hôi tay chân, đi tiêu phân lỏng; ngoài ra người ta còn sử dụng để làm gia vị trong chế biến các món ăn.

Lá Lốt có nhiều tác dụng điều trị bệnh
Tác dụng của lá lốt theo y học hiện đại
Khả năng kháng khuẩn:
Lá Lốt có khả năng kháng các vi khuẩn: Bacillus psyocyaneus, Staphylococus aureus và Bacillus subtilis; nhờ tác dụng kháng khuẩn nên lá Lốt có khả năng chống viêm khá hiệu quả. Các nghiên cứu so sánh tác dụng kháng khuẩn của 3 dạng bào chế: Cao lá khô, nước ép lá tươi và cao lá tươi gần tương tự như nhau.
Các thử nghiệm trên lâm sàng chứng tỏ cao lỏng dùng ngậm và viên cao Lá lốt dùng uống có tác dụng giảm đau và trị các bệnh viêm cấp tính về răng miệng.
Các thử nghiệm tiến hành như sau:
Lá Lốt và 3 dược liệu khác nhau được áp dụng điều trị các triệu chứng đau khớp, đau xương. Kết quả cho thấy lá Lốt có tác động tốt 29,26%, trung bình 53,65% và không kết quả là 17,07% so với tổng số bệnh nhân điều trị.
Các nghiên cứu về tác dụng sinh học của cây lá Lốt:
Một nghiên cứu đối với lá Lốt được thu hái tại vùng ngoại ô Hà Nội vào tháng 3/2001, thử nghiệm trên chuột nhắt trắng để đánh giá về thành phần hóa học và thử độc cấp của lá Lốt.
Kết quả:
Các thành phần trong rễ và thân lá đều giống nhau, một số dược liệu khác có thể có thành phần của các bộ phận khác nhau sẽ không giống nhau. Thành phần tìm thấy trong lá Lốt như sau: Alkaloid, flavonoid, anthranoid, tanin, tinh dầu, đường khử, acid amin, hàm lượng flavonoid toàn phần 1,14%, trên sắc ký khí mỏng alcaloid cho 5 vết, flavonoid cho 8 vết.
Độc tính:
Với liều 200g/kg thể trọng dùng dạng nước sắc không thể hiện độc tính.
Khả năng chống viêm:
Sử dụng liều 20g/kg thể trọng với dịch chiết Lá lốt từ cồn 900, nhận thấy khả năng chống viêm từ 39,63 - 69,15%, thời gian đáp ứng viêm từ giờ đầu tiên kéo dài đến 30 giờ sau khu thử nghiệm, khả năng ức chế viêm 41,08 - 58,21% đối với dung dịch flavonoid toàn phần 4%.
Khả năng giảm đau:
So sánh dung dịch lá Lốt chiết từ cồn so sánh với dung dịch flavonoid 4% và aspirin kết quả cho thấy dung dịch lá Lốt chiết từ cồn giảm đau lên đến 62,50 - 64,05%, dung dịch flavonoid 4% ức chế 42,6 - 54,9% khả năng giảm đau tương tự aspirin.
Tác dụng chống oxy hóa và lợi mật của vị thuốc Lá lốt:
Nghiên cứu tác dụng chống oxy hóa và lợi mật của lá Lốt đối với chiết xuất ethanol 2:1 so với dung dịch 5% flavonoid. Chiết xuất ethanol 2:1 có khả năng ức chế quá trình oxi hóa lipid.
Chiết xuất ethanol 2:1 và dung dịch 5% tổng lượng flavonoid từ Lá lốt được nghiên cứu cho tác dụng chống oxy hóa và lợi mật. Chiết xuất ethanol 2:1 ức chế quá trình oxi hóa lipid trong tế não là 47,6%, tế bào gan 40,6%. Tác dụng dung dịch 5% của flavonoid ức chế quá trình oxi hóa lipid ở gan là 56,9% và ở não là 41,1% so với nhóm chứng. Chiết xuất ethanol 2:1 làm tăng dịch mật lên 18,03% trong khi ở nhóm dung dịch là 35,5%.
Nghiên cứu nấu một số loại cao thảo dược:
Tại Quảng Bình người ta nghiên cứu điều trị Gout kết hợp các dược liệu lá Lốt, cây Nở ngày và lá Vối.
Các nguyên liệu sau khi chuẩn bị xong, mỗi nguyên liệu lấy 1kg và 4 lít nước, tiến hành nâng nhiệt và chiết ở 1000C, điều kiện áp suất thường. Đem dung dịch đi cô đặc, thu được 10 – 15% nước. Qua quá trình nấu thu được cao dẻo, đặc quánh, sau khoảng thời gian 8 - 10 giờ. Sau đó đem đi bảo quản hạn chế oxi, chống oxi hóa.
Cách dùng Lá lốt: Vừa là loại rau, vừa là vị thuốc trong vườn nhà
Cách dùng: Dùng dưới dạng thuốc sắc, dùng cho tay chân hay đổ mồ hôi sau đó ngâm tay chân, ngâm đến lúc nguội thì ngừng.
Liều dùng: Liều hàng ngày 5 - 10g dạng khô hoặc 15 - 30g lá tươi. Sắc với nước, mỗi ngày uống từ 2 - 3 lần.
Từng làm ở Viện ISDS, nhiều năm cộng tác với CDC Thái Nguyên triển khai dự án phòng chống HIV/AIDS, 2 năm cộng tác với WHO.
Nguồn dữ liệu: nhathuoclongchau