Noxafil

Số đăng ký / SKU754110790024
Nhà sản xuấtPatheon Pharmaceuticals Inc.
Dạng bào chếHỗn dịch uống
Quy cáchHộp 1 chai 105ml

**\* Điều trị các trường hợp nhiễm nấm sau ở bệnh nhân từ 13 tuổi trở lên.**

Chưa có hình ảnh

Thành phần Noxafil

Hoạt chấtHàm lượng / Nồng độ
Posaconazole40mg/ml

Công dụng Noxafil

* Điều trị các trường hợp nhiễm nấm sau ở bệnh nhân từ 13 tuổi trở lên.

Nhiễm Candida vùng hầu họng, bao gồm cả những bệnh nhân kháng trị với itraconazole và fluconazole. Kháng trị được định nghĩa là sự tiến triển của tình trạng nhiễm trùng hay tình trạng không cải thiện sau tối thiểu 7 ngày điều trị với liều điều trị kháng nấm hiệu quả.

Nhiễm nấm Aspergillus xâm lấn ở những bệnh nhân mắc bệnh kháng trị với amphotericin B, itraconazole hoặc voriconazole hoặc ở bệnh nhân không dung nạp những thuốc này. Kháng trị được định nghĩa là nhiễm nấm tiến triển hoặc không cải thiện sau tối thiểu 7 ngày điều trị trước đó với các liều điều trị của liệu pháp kháng nấm có hiệu quả.

Bệnh nấm Candida thực quản hoặc nhiễm nấm Candida huyết ở những bệnh nhân mắc bệnh kháng trị với amphotericin B, fluconazole hoặc itraconazole hoặc ở bệnh nhân không dung nạp những thuốc này. Kháng trị được định nghĩa là nhiễm nấm tiến triển hoặc không cải thiện sau một thời gian điều trị tối thiểu (nhiễm nấm huyết dai dẳng: 3 ngày; nhiễm nấm không vào máu: 7 ngày; bệnh nấm Candida thực quản: 14 ngày); với các liều điều trị của liệu pháp kháng nấm có hiệu quả.

Nhiễm nấm Fusarium, nhiễm nấm Zygomycetes, bệnh nấm Cryptococcus, bệnh nấm màu và u nấm ở những bệnh nhân mắc bệnh kháng trị với các thuốc khác hoặc những bệnh nhân không dung nạp với các thuốc khác.

Bệnh nấm Coccidioides immitis. Bệnh nấm Coccidioides immitis đã thất bại hoặc không dung nạp với các thuốc chống nấm khác.

* Noxafil dạng hỗn dịch uống cũng được chỉ định điều trị dự phòng các trường hợp nhiễm nấm xâm lấn bao gồm cả nấm men và nấm mốc ở bệnh nhân từ 13 tuổi trở lên, bệnh nhân có nguy cơ cao phát triển các nhiễm nấm này như bệnh nhân giảm bạch cầu trung tính kéo dài, bệnh nhân nhận ghép tế bào gốc hệ tạo máu (HSCT).

Cách dùng Noxafil

Nhiễm trùng nấm xâm lấn (IFI) 

200 mg (5 mL) bốn lần một ngày. Ngoài ra, bệnh nhân có thể dung nạp thực phẩm hoặc bổ sung dinh dưỡng có thể dùng 400 mg (10 mL) hai lần một ngày trong hoặc ngay sau bữa ăn hoặc bổ sung dinh dưỡng.

Thời gian điều trị nên dựa trên mức độ nghiêm trọng của bệnh tiềm ẩn, phục hồi sau ức chế miễn dịch và đáp ứng lâm sàng.

Nấm candida

200 mg (5 mL) mỗi ngày một lần vào ngày đầu tiên, sau đó 100 mg (2,5 mL) mỗi ngày một lần trong 13 ngày.

Mỗi liều Noxafil nên được dùng trong hoặc ngay sau bữa ăn, hoặc bổ sung dinh dưỡng ở những bệnh nhân không thể dung nạp thức ăn để tăng cường hấp thu qua đường miệng và đảm bảo phơi nhiễm đầy đủ.

Dự phòng nhiễm nấm xâm lấn

200 mg (5 mL) ba lần một ngày. Mỗi liều Noxafil nên được dùng trong hoặc ngay sau bữa ăn, hoặc bổ sung dinh dưỡng ở những bệnh nhân không thể dung nạp thức ăn để tăng cường hấp thu qua đường miệng và đảm bảo phơi nhiễm đầy đủ. Thời gian điều trị dựa trên sự phục hồi từ giảm bạch cầu hoặc ức chế miễn dịch. Đối với những bệnh nhân mắc bệnh bạch cầu nguyên bào tủy cấp tính hoặc hội chứng myelodysplastic, điều trị dự phòng bằng Noxafil nên bắt đầu vài ngày trước khi bắt đầu giảm bạch cầu trung tính và tiếp tục trong 7 ngày sau khi số lượng bạch cầu trung tính tăng trên 500 tế bào mỗi mm 3 .

Suy thận

Tác dụng của suy thận đối với dược động học của posaconazole là không được mong đợi và không nên điều chỉnh liều.

Suy gan

Dữ liệu hạn chế về ảnh hưởng của suy gan (bao gồm phân loại bệnh gan mạn tính ở trẻ em) về dược động học của posaconazole chứng minh sự gia tăng phơi nhiễm huyết tương so với các đối tượng có chức năng gan bình thường, nhưng không cho thấy điều chỉnh liều là cần thiết. Đó là khuyến cáo để thận trọng do khả năng tiếp xúc với huyết tương cao hơn.

Trẻ em

Sự an toàn và hiệu quả của Noxafil ở trẻ em dưới 18 tuổi chưa được thiết lập.

Cách dùng:

Dùng đường uống

Hỗn dịch uống phải được lắc đều trước khi sử dụng.

Tác dụng phụ Noxafil

Sự an toàn của hỗn dịch uống posaconazole đã được đánh giá ở> 2.400 bệnh nhân và tình nguyện viên khỏe mạnh tham gia vào các thử nghiệm lâm sàng và từ kinh nghiệm sau tiếp thị. Các phản ứng bất lợi nghiêm trọng liên quan được báo cáo thường xuyên nhất bao gồm buồn nôn, nôn mửa, tiêu chảy, pyrexia và tăng bilirubin. Rối loạn hệ thống máu và bạch huyết Chung: giảm bạch cầu Không phổ biến:Giảm tiểu cầu, giảm bạch cầu, thiếu máu, tăng bạch cầu ái toan, viêm hạch bạch huyết, nhồi máu lách Hiếm : hội chứng tan máu bẩm sinh, ban xuất huyết giảm tiểu cầu, pancytopenia, rối loạn đông máu, xuất huyết Rối loạn hệ thống miễn dịch Không phổ biến: dị ứng Hiếm hoi:phản ứng quá mẫn Rối loạn nội tiết Hiếm hoi: suy thượng thận, gonadotropin trong máu giảm Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng Chung: Mất cân bằng điện giải, chán ăn, giảm cảm giác thèm ăn, hạ kali máu, hạ kali máu Không phổ biến: tăng đường huyết, hạ đường huyết Rối loạn tâm thần Không phổ biến: giấc mơ bất thường, trạng thái nhầm lẫn, rối loạn giấc ngủ Hiếm hoi: rối loạn tâm thần, trầm cảm Rối loạn hệ thần kinh Chung: dị cảm, chóng mặt, buồn ngủ, nhức đầu, khó tiêu Không phổ biến: co giật, bệnh lý thần kinh, hạ sốt, run, mất ngôn ngữ, mất ngủ Hiếm hoi: tai biến mạch máu não, bệnh não, bệnh thần kinh ngoại biên, ngất Rối loạn mắt Không phổ biến: mờ mắt, chứng sợ ánh sáng, giảm thị lực Hiếm hoi: nhìn đôi Rối loạn tai và mê cung Hiếm hoi: khiếm thính Rối loạn tim Không phổ biến: Hội chứng QT dài § , điện tâm đồ bất thường § , đánh trống ngực, nhịp tim chậm, ngoại tâm thu thất, nhịp tim nhanh Hiếm hoi:xoắn đỉnh, đột tử, nhịp nhanh thất, ngừng tim-hô hấp, suy tim, nhồi máu cơ tim Rối loạn mạch máu Chung: tăng huyết áp Không phổ biến: hạ huyết áp, viêm mạch Hiếm: thuyên tắc phổi, huyết khối tĩnh mạch sâu Rối loạn hô hấp, lồng ngực và trung thất Không phổ biến: ho, chảy máu cam, nấc, nghẹt mũi, đau màng phổi, thở nhanh Hiếm: tăng huyết áp phổi, viêm phổi kẽ, viêm phổi Rối loạn tiêu hóa Rất phổ biến: buồn nôn Chung: nôn, đau bụng, tiêu chảy, khó tiêu, khô miệng, đầy hơi, táo bón, khó chịu ở hậu môn trực tràng Không phổ biến: Viêm tụy, trướng bụng, viêm ruột, khó chịu vùng thượng vị, cương cứng, trào ngược dạ dày thực quản, phù miệng Hiếm: xuất huyết tiêu hóa, hồi tràng Rối loạn gan mật Chung: xét nghiệm chức năng gan tăng (ALT tăng, AST tăng, bilirubin tăng, phosphatase kiềm tăng, GGT tăng) Không phổ biến: tổn thương tế bào gan, viêm gan, vàng da, gan to, ứ mật, nhiễm độc gan, chức năng gan bất thường Hiếm hoi: suy gan, viêm gan ứ mật, gan lách to, đau gan, tiểu hành tinh Rối loạn da và mô dưới da Chung: phát ban, viêm ngứa Không phổ biến: loét miệng, rụng tóc, viêm da, ban đỏ, xuất huyết Hiếm hoi: Hội chứng Stevens Johnson, phát ban mụn nước Rối loạn cơ xương và mô liên kết Không phổ biến: đau lưng, đau cổ, đau cơ xương khớp, đau ở tứ chi

Lưu ý & Thận trọng Noxafil

Chống chỉ định

Quá mẫn cảm với hoạt chất hoặc với bất kỳ tá dược nào của thuốc. Phối hợp với ergot alkaloids. Phối hợp với các chất nền CYP3A4 terfenadine, astemizole, cisapride, pimozide, halofantrine hoặc quinidine vì điều này có thể dẫn đến tăng nồng độ trong huyết tương của các sản phẩm thuốc này, dẫn đến kéo dài QTc. Phối hợp với các thuốc ức chế men khử HMG-CoA simvastatin, lovastatin và atorvastatin.

Tương tác thuốc

Ảnh hưởng của các thuốc khác đến hỗn dịch uống posaconazol: Posaconazol được chuyển hóa qua quá trình UDP glucuronid hóa (các enzyme giai đoạn 2) và là một chất nền cho dòng đẩy p-glycoprotein (P-gp). Vì vậy, những thuốc ức chế hoặc cảm ứng các con đường thanh thải này có thể làm tăng hoặc giảm nồng độ posaconazol trong huyết tương. Rifabutin (300mg, 1 lần/ngày) làm giảm Cmax (nồng độ tối đa trong huyết tương) của posaconazol 43% và giảm AUC (diện tích dưới đường cong nồng độ trong huyết tương theo thời gian) của posaconazol 49%. Nên tránh dùng đồng thời posaconazol và rifabutin trừ khi lợi ích đối với bệnh nhân vượt trội nguy cơ. Phenytoin (200mg, 1 lần/ngày) làm giảm Cmax của posaconazol 41% và giảm AUC của posaconazol 50%. Nên tránh dùng đồng thời posaconazol và phenytoin trừ khi lợi ích đối với bệnh nhân vượt trội nguy cơ. Cimetidine (400mg 2 lần một ngày) làm giảm Cmax và AUC của posaconazol (200mg QD) khoảng 39%. Việc dùng đồng thời posaconazol và cimetidine nên tránh trừ khi lợi ích điều trị vượt trên nguy cơ do việc dùng đồng thời gây nên. Thuốc đối kháng thụ thể H2, thuốc ức chế bơm proton (PPI) và thuốc kháng acid: Không ghi nhận ảnh hưởng tương quan lâm sàng trên khả dụng sinh học của posaconazol khi dùng đồng thời cùng với một thuốc kháng acid, thuốc đối kháng thụ thể H2 khác ngoài cimetidine, hoặc thuốc ức chế bơm proton. Vì vậy không cần chỉnh liều của posaconazol khi sử dụng đồng thời với các thuốc kể trên. Glipizide (liều đơn 10mg) không ảnh hưởng có ý nghĩa lâm sàng đến Cmax và AUC của posaconazol. Efavirenz (400mg, 1 lần/ngày) làm giảm Cmax của posaconazol là 45% và giảm AUC của posaconazol là 50%. Nên tránh sử dụng đồng thời posaconazol và efavirenz trừ khi lợi ích đối với bệnh nhân vượt trội nguy cơ. Fosamprenavir: Dùng kết hợp fosamprenavir với posaconazol có thể dẫn đến giảm nồng độ posaconazol trong huyết tương. Nếu cần sử dụng đồng thời, khuyến cáo nên theo dõi chặt chẽ tình trạng nhiễm nấm bùng phát. Sử dụng liều fosamprenavir lặp lại (700mg, 2 lần/ngày x 10 ngày) làm giảm Cmaxvà AUC của posaconazol (hỗn dịch uống 200 mg, 1 lần/ngày vào ngày đầu tiên, hỗn dịch uống 200mg, 2 lần/ngày vào ngày thứ 2, sau đó là hỗn dịch uống 400mg, 2 lần/ngày x 8 ngày) tương ứng là 21% và 23%. Ảnh hưởng của hỗn dịch uống posaconazol đến các thuốc khác: Posaconazol không được chuyển hóa đến mức có ý ‎nghĩa lâm sàng qua hệ thống cytochrome P450. Tuy nhiên, posaconazol là một thuốc ức chế CYP3A4, vì vậy nồng độ trong huyết tương của các thuốc được chuyển hóa qua con đường enzyme này có thể tăng lên khi được dùng với posaconazol. Alkaloid nấm Cựa gà: Mặc dù chưa được nghiên cứu in vitro hoặc in vivo, posaconazol có thể làm tăng nồng độ trong huyết tương của các alkaloid nấm Cựa gà (ergotamine và dihydroergotamine), có thể dẫn đến ngộ độc nấm cựa gà. Chống chỉ định dùng đồng thời posaconazol và alkaloid nấm Cựa gà. Vinca alkaloids: Mặc dù chưa được nghiên cứu in vitro hoặc in vivo, posaconazol có thể làm tăng nồng độ trong huyết tương của các vinca alkaloid (như vincristine và vinblastine), có thể dẫn đến độc tính đối với thần kinh. Vì vậy khuyến cáo nên xem xét điều chỉnh liều vinca alkaloids. Cyclosporine: Ở những bệnh nhân ghép tim dùng liều cyclosporine ổn định, việc sử dụng hỗn dịch uống posaconazol 200mg, 1 lần/ngày làm tăng nồng độ cyclosporine nên cần phải giảm liều. Khi bắt đầu điều trị bằng posaconazol ở những bệnh nhân đã dùng cyclosporine thì nên giảm liều cyclosporine (ví dụ giảm còn khoảng 3/4 liều hiện dùng). Sau đó nên theo dõi cẩn thận nồng độ cyclosporine trong máu trong thời gian dùng kết hợp và khi ngừng điều trị bằng posaconazol và nên điều chỉnh liều cyclosporine khi cần thiết. Tacrolimus: Posaconazol làm tăng Cmax và AUC của tacrolimus (liều đơn 0,05mg/kg thể trọng) tương ứng là 121% và 358%. Khi bắt đầu điều trị bằng posaconazol ở những bệnh nhân đã dùng tacrolimus thì nên giảm liều tacrolimus (ví dụ giảm còn khoảng 1/3 liều hiện dùng). Sau đó nên theo dõi cẩn thận nồng độ tacrolimus trong máu trong thời gian dùng kết hợp và khi ngừng posaconazol và nên điều chỉnh liều tacrolimus khi cần thiết. Sirolimus: Dùng liều uống posaconazol lặp lại (hỗn dịch uống 400mg, 2 lần/ngày trong 16 ngày) làm tăng Cmax và AUC của sirolimus (liều đơn 2mg) trung bình tương ứng gấp 6,7 lần và 8,9 lần ở các đối tượng khỏe mạnh. Khi bắt đầu điều trị ở bệnh nhân đã dùng sirolimus, nên giảm liều sirolimus (ví dụ giảm còn khoảng 1/10 liều hiện dùng) và theo dõi thường xuyên nồng độ đáy của sirolimus trong máu toàn phần. Nên theo dõi nồng độ sirolimus lúc bắt đầu sử dụng, trong thời gian dùng kết hợp và khi ngừng điều trị bằng posaconazol và điều chỉnh liều sirolimus cho phù hợp. Rifabutin: Posaconazol làm tăng Cmax của rifabutin là 31% và tăng AUC của rifabutin là 72%. Nên tránh sử dụng đồng thời posaconazol và rifabutin trừ khi lợi ích đối với bệnh nhân vượt trội nguy cơ. Nếu dùng kết hợp hai thuốc này, khuyến cáo nên theo dõi cẩn thận về tổng số huyết cầu toàn phần và các tác dụng phụ liên quan đến tăng nồng độ rifabutin (như viêm màng mạch nho). Midazolam: Dùng liều uống posaconazol lặp lại (hỗn dịch uống 200mg, 2 lần/ngày trong 7 ngày) làm tăng Cmax và AUC của midazolam tiêm tĩnh mạch (liều đơn 0,4mg) trung bình gấp 1,3 lần và 4,6 lần tương ứng. Dùng hỗn dịch uống posaconazol 400mg, 2 lần/ngày trong 7 ngày làm tăng Cmax và AUC của midazolam tiêm tĩnh mạch gấp 1,6 lần và 6,2 lần tương ứng. Cả hai liều trên của posaconazol làm tăng Cmax và AUC của midazolam dạng uống (liều đơn đường uống 2mg) gấp 2,2 lần và 4,5 lần tương ứng. Ngoài ra, posaconazol dạng uống (hỗn dịch uống 200mg hoặc 400mg) làm kéo dài thời gian bán hủy cuối cùng của midazolam từ khoảng 3-4 giờ đến 8-10 giờ trong thời gian dùng kết hợp. Khuyến cáo nên xem xét điều chỉnh liều các benzodiazepine được chuyển hóa bởi CYP3A4 trong thời gian dùng kết hợp với posaconazol. Zidovudine (AZT), lamivudine (3TC), indinavir: Nghiên cứu lâm sàng cho thấy không có ảnh hưởng đáng kể về mặt lâm sàng trên zidovudine, lamivudine, indinavir khi dùng chung với posaconazol, do đó, không cần điều chỉnh liều các thuốc dùng kết hợp. Thuốc ức chế protease của virus gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV): Do các thuốc ức chế protease của HIV là các cơ chất của CYP3A4 nên posaconazol được cho là làm tăng nồng độ huyết tương của các thuốc kháng retrovirus này. Dùng liều uống posaconazol lặp lại (hỗn dịch uống 400mg, 2 lần/ngày trong 7 ngày) làm tăng Cmax và AUC của atazanavir (300mg, 1 lần/ngày trong 7 ngày) trung bình gấp 2,6 lần và 3,7 lần tương ứng ở các đối tượng khỏe mạnh. Dùng liều uống posaconazol lặp lại (hỗn dịch uống 400mg, 2 lần/ngày trong 7 ngày) làm tăng Cmax và AUC của atazanavir ở mức độ ít hơn khi được dùng dưới dạng chế độ điều trị gia tăng với ritonavir (300mg atazanavir cộng ritonavir 100mg, 1 lần/ngày trong 7 ngày) trung bình gấp 1,5 lần và 2,5 lần tương ứng ở các đối tượng khỏe mạnh. Khuyến cáo theo dõi thường xuyên các tác dụng phụ và độc tính liên quan với các thuốc kháng retrovirus là cơ chất của CYP3A4 trong thời gian dùng kết hợp với posaconazol. Thuốc ức chế HMG-CoA reductase chủ yếu được chuyển hóa qua CYP3A4: Dùng liều uống posaconazol lặp lại (hỗn dịch uống 50mg, 100mg và 200mg, 1 lần/ngày trong 13 ngày) làm tăng Cmax và AUC của simvastatin (liều đơn 40mg) trung bình gấp 7,4 đến 11,4 lần và 5,7 đến 10,6 lần tương ứng. Sự tăng nồng độ thuốc ức chế HMG-CoA reductase trong huyết tương có thể liên quan với tiêu cơ vân. Chống chỉ định dùng đồng thời posaconazol với các thuốc ức chế HMG-CoA reductase chủ yếu chuyển hóa qua CYP3A4. Thuốc chẹn kênh calci chuyển hóa qua CYP3A4: Mặc dù chưa được nghiên cứu in vitro hoặc in vivo, nên theo dõi thường xuyên các tác dụng phụ và độc tính liên quan đến các thuốc chẹn kênh calci trong thời gian dùng kết hợp với posaconazol. Có thể cần phải điều chỉnh liều thuốc chẹn kênh calci.

Nguồn dữ liệu: thuocbietduoc

(*) Thông tin trên chỉ mang tính chất tham khảo. Vui lòng luôn tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc chuyên gia y tế để được tư vấn chính xác cho tình trạng sức khỏe cụ thể của bạn.