Sargramostim

Số đăng ký / SKUsargramostim
Dạng bào chếDược chất

Sargramostim dạng lỏng có chứa EDTA đã bị FDA rút khỏi thị trường. **Tên thuốc gốc (Hoạt chất)** Sargramostim. **Loại thuốc** Tác nhân kích thích tạo máu: Yếu tố kích thích phát triển đơn dòng (CSF), yếu tố tăng trưởng, yếu tố kích thích sản sinh bạch cầu. **Dạng thuốc và hàm lượng** Bột pha tiêm 250 mcg Dung dịch tiêm 500 mcg/ml

Chưa có hình ảnh

Thành phần Sargramostim: Thuốc tăng trưởng bạch cầu

Hoạt chấtHàm lượng / Nồng độ

Cách dùng Sargramostim: Thuốc tăng trưởng bạch cầu

Nếu phản ứng có hại nghiêm trọng xảy ra, giảm 50% liều Sargramostim hoặc tạm thời ngừng điều trị cho đến khi phản ứng thuyên giảm.

Ngừng điều trị nếu tế bào blast xuất hiện hoặc nếu bệnh tiến triển.

Tạm thời ngừng điều trị hoặc giảm liều Sargramostim 50% nếu số lượng bạch cầu trung tính tuyệt đối (ANC) > 20.000/mm 3 hoặc nếu số lượng tiểu cầu > 500.000/mm3. Dựa vào tình trạng lâm sàng của bệnh nhân để quyết định tạm ngưng điều trị hay giảm liều. 

Người lớn

Bạch cầu dòng tủy cấp tính (AML):

  • Truyền tĩnh mạch 250 mcg/m²/ngày trong thời gian 4 giờ, bắt đầu vào khoảng ngày thứ 11 hoặc 4 ngày sau khi hoàn thành hóa trị liệu cảm ứng. Chỉ sử dụng nếu ngày 10 tủy xương giảm sản sinh với ít hơn 5% tế bào blast.
  • Nếu cần điều trị chu kỳ thứ hai của hóa trị cảm ứng, theo dõi bệnh khoảng 4 ngày sau khi hoàn thành hóa trị liệu nếu tủy xương giảm sản sinh với ít hơn 5% tế bào blast.

Tiếp tục cho đến khi số lượng bạch cầu trung tính tuyệt đối (ANC) lớn hơn 1.500 tế bào/mm³ trong 3 ngày liên tiếp hoặc tối đa là 42 ngày.

Ghép tủy xương tự thân hoặc đồng loài:

  • Truyền tĩnh mạch 250 mcg/m²/ngày trong 2 giờ, bắt đầu từ 2 – 4 giờ sau khi truyền tủy xương và ít nhất 24 giờ sau liều hóa trị hoặc xạ trị cuối cùng.
  • Không bắt đầu dùng thuốc cho đến khi số lượng bạch cầu trung tính tuyệt đối (ANC) sau ghép nhỏ hơn 500 tế bào/mm³, tiếp tục cho đến khi ANC lớn hơn 1.500 tế bào/mm³ trong 3 ngày liên tục.

Ghép tủy xương thất bại hoặc trì hoãn quá trình ghép:

  • Liều khởi đầu 250 mcg/m2 truyền tĩnh mạch trong 2 giờ một lần mỗi ngày trong 14 ngày liên tục. Ngừng trong 7 ngày liên tục sau đó.
  • Nếu quá trình ghép vẫn chưa xảy ra sau 7 ngày này, bắt đầu đợt điều trị thứ hai: truyền tĩnh mạch 250 mcg/m2 trong 2 giờ, một lần mỗi ngày trong 14 ngày liên tục. Ngừng trong 7 ngày liên tục sau đó.
  • Nếu quá trình ghép vẫn chưa xảy ra sau 7 ngày này, bắt đầu đợt điều trị thứ ba: truyền tĩnh mạch 500 mcg/m2 trong 2 giờ, một lần mỗi ngày trong 14 ngày liên tục.

Khuyến cáo tối đa 3 đợt điều trị (500 mcg/m2 /ngày trong đợt điều trị thứ ba).

Ghép tế bào tiền thân máu ngoại vi:

Giai đoạn huy động:

  • Truyền tĩnh mạch liên tục 250 mcg/m2/ngày trong 24 giờ hoặc tiêm dưới da mỗi ngày một lần. 
  • Tiếp tục với cùng một liều lượng trong suốt quá trình thu thập tế bào tiền thân máu ngoại vi (PBPC). Giảm 50% liều nếu lượng bạch cầu hơn 50.000 tế bào/mm3.

Giai đoạn sau khi huy động:

  • Truyền tĩnh mạch liên tục 250 mcg/m2/ngày trong 24 giờ hoặc tiêm dưới da mỗi ngày một lần ngay sau khi truyền tế bào tiền thân và tiếp tục cho đến khi ANC lớn hơn 1500 tế bào/mm3 trong 3 ngày liên tiếp.
  • Nếu thu thập không đủ tế bào tiền thân: Cân nhắc liệu pháp vận động khác.

 

Hội chứng loạn sản sinh tủy:

Truyền tĩnh mạch 15 – 500 mcg/m2 ngày một lần, trong 1 – 12 giờ hoặc liều 30 – 500 mcg/m2 mỗi ngày, truyền tĩnh mạch liên tục trong 24 giờ.

Thiếu máu bất sản:

Truyền tĩnh mạch 15 – 480 mcg/m2 ngày một lần, trong 1 - 12 giờ hoặc liều 120 – 500 mcg/m2 mỗi ngày, truyền tĩnh mạch liên tục trong 24 giờ.

Giảm bạch cầu trung tính liên quan đến nhiễm HIV và điều trị bằng thuốc kháng virus:

Liều 250 mcg/m2 truyền tĩnh mạch hoặc tiêm dưới da một lần mỗi ngày trong 2 - 4 tuần.

Trẻ em

Thanh thiếu niên, điều trị giảm bạch cầu trung tính liên quan đến HIV và điều trị kháng virus:

Liều 250 mcg/m2 truyền tĩnh mạch hoặc tiêm dưới da một lần mỗi ngày trong 2 - 4 tuần.

Nội dung Y tế Được Kiểm Duyệt
Nguyễn Thanh Hải
Dược sĩ Đại học Nguyễn Thanh HảiGiảng viên Trung tâm Đào tạo FPT Long Châu

Tốt nghiệp Đại học Dược Hà Nội, với hơn 10 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực Dược phẩm. Hiện là giảng viên giảng dạy các môn Dược lý, Dược lâm sàng,...

Nguồn dữ liệu: nhathuoclongchau

(*) Thông tin trên chỉ mang tính chất tham khảo. Vui lòng luôn tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc chuyên gia y tế để được tư vấn chính xác cho tình trạng sức khỏe cụ thể của bạn.