Thạch lựu bì

Số đăng ký / SKUthach-luu-bi
Dạng bào chếDược liệu

Thạch lựu bì là một loài dược thảo có nguồn gốc từ Afghanistan và Iran, đang được trồng rộng rãi trên khắp lãnh thổ Việt Nam. Trong Y học dân gian cổ truyền, người ta sử dụng Thạch lựu bì để điều trị giun sán ký sinh hệ tiêu hoá, đau răng, kiết lỵ...

Chưa có hình ảnh

Thành phần Thạch lựu bì: Loại dược liệu có nhiều tác dụng chữa bệnh

Hoạt chấtHàm lượng / Nồng độ

Công dụng Thạch lựu bì: Loại dược liệu có nhiều tác dụng chữa bệnh

Theo y học cổ truyền

Vỏ quả Thạch lựu có vị chua chát, tính ấm, có độc; tác dụng khu trùng, sáp trường, chỉ huyết. 

Rễ và vỏ rễ lựu có vị đắng, chát; tính ôn, có độc, có tác dụng sát trùng, trừ sán, sáp trường, chỉ đới. 

Pelletierin, vỏ rễ và vỏ thân cây lựu đều được dùng làm thuốc diệt sán, nhưng hiện nay pelletierin ít được dùng vì quá độc. Thường dùng vỏ rễ, vỏ thân tươi, vừa mới thu hoạch vì trong vỏ, pelletierin ở dạng muối tannat ít độc đối với cơ thể người, lại có hiệu lực diệt sán cao. Nếu dùng vỏ khô, trước khi pha chế cần ngâm trong nước vài giờ.

Ngoài ra, vỏ thân và vỏ rễ còn được người dân dùng làm thuốc ngậm chữa đau răng; vỏ quả hạ thổ dùng để chữa kiết lỵ.

Theo y học hiện đại

Trị giun sán

Từ xa xưa, người dân ở Trung Quốc và châu Âu đã biết dùng vỏ rễ Thạch lựu để trị bệnh giun sán ký sinh đường tiêu hoá. Hoạt chất isopelletierin và pelletierin có trong vỏ thân và vỏ rễ Thạch lựu là hai thành phần chính có tác dụng diệt giun sán, đã được chứng minh qua nhiều nghiên cứu.

Tuy nhiên, do độc tính quá cao nên hiện nay ít được sử dụng trong điều trị lâm sàng. Ở người, dùng pelletierin với liều 0,5 – 0,6g có thể gây hoa mắt, chóng mặt, mệt lả, buồn nôn, tiêu chảy. Để tăng cường hiệu quả diệt sán, đồng thời giảm độc tính, người ta thường dùng dạng tannat pelletierin vì dạng này không hòa tan trong dịch ruột nên không bị hấp thu nhanh chóng vào máu, đồng thời tăng nồng độ tiếp xúc với sán. 

Chống xuất huyết

Trong thí nghiệm trên thở, dịch chiết vỏ rễ lựu trong nước cho tác dụng thúc đẩy quá trình đông máu.

Kháng khuẩn

Nước sắc vỏ lựu có tác dụng ức chế các vi khuẩn: Escherichia coli, Bacillus dysenteriae, B.pyocyaneus, B.typhi, Streptococcus aureus. 

Ngoài ra, dịch chiết từ vỏ lựu với nồng độ 10g/Iít có khả năng chống các chủng nấm gây bệnh cho cây lúa và cây mía là Colletotrichum falcatum WentPiricularia oryzae Cav. Khi cho thỏ uống dịch chiết này 2 lần/ngày cho tác dụng cầm tiêu chảy.

Chống oxy hoá

Trong vỏ lựu chứa nhiều hoạt chất chống oxy hóa, giúp loại bỏ các gốc tự do gây hại đến tim, trì hoãn tiến trình lão hoá, giảm nguy cơ ung thư và loại bỏ những độc tố tích tụ trong cơ thể.

Các nhà khoa học ở Anh đã chứng minh được tác dụng điều trị bệnh Alzheimer và Parkinson của punicalagin - hoạt chất chiết từ vỏ lựu. Punicalagin có tính chất chống oxy hoá, ức chế quá trình viêm gây sưng trong các tế bào não, dẫn đến ngăn chặn nguy cơ tổn thương các tế bào này.

Cách dùng Thạch lựu bì: Loại dược liệu có nhiều tác dụng chữa bệnh

Liều dùng vỏ thân hoặc vỏ rễ: Dạng nước sắc 30 – 40g.

Liều dùng vỏ quả: 15 – 20g/ngày sắc với 400ml nước còn 100ml thêm đường và tinh dầu thơm cho dễ uống, uống một lần trong ngày.

Nội dung Y tế Được Kiểm Duyệt
Nguyễn Thanh Hải
Dược sĩ Đại học Nguyễn Thanh HảiGiảng viên Trung tâm Đào tạo FPT Long Châu

Tốt nghiệp Đại học Dược Hà Nội, với hơn 10 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực Dược phẩm. Hiện là giảng viên giảng dạy các môn Dược lý, Dược lâm sàng,...

Nguồn dữ liệu: nhathuoclongchau

(*) Thông tin trên chỉ mang tính chất tham khảo. Vui lòng luôn tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc chuyên gia y tế để được tư vấn chính xác cho tình trạng sức khỏe cụ thể của bạn.