Bằng lăng
Bằng lăng tía có tên khoa học là: Lagerstroemia calyculata Kurz. Một số đồng bào dân tộc Ba Na và Gia Rai ở Tây Nguyên đã dùng nước sắc từ vỏ cây bằng lăng tía để rửa đắp vết thương, vết bỏng, chữa lỵ, ghẻ lở…
Thành phần Bằng lăng tía
| Hoạt chất | Hàm lượng / Nồng độ |
|---|
Công dụng Bằng lăng tía
Theo y học cổ truyền
Không có thông tin.
Theo y học hiện đại
Trong thử nghiệm in vitro, cao lỏng vỏ cây bằng lăng tía có tác dụng ức chế sự phát triển của các vi khuẩn theo theo thứ tự hoạt tính giảm dần như sau: Shigella shigae. Bacillus subtilis, Proteus vulgaris. Sh. flexneri, Sh. sonnei, Salmonella typhi, Escherichia coli, Staphylococcus aureus, Pseudomonas aeruginosa.
Bằng cách sử dụng phương pháp pha loãng, đã xác định nồng độ ức chế tối thiểu của cao lỏng vỏ cây bằng lăng tía đối với những nấm gây bệnh ngoài da như: Epidermophyton inguinale (1:1), Trichophyton rubrum (1,5:1), Trichophyton gypseum (1,5:1) và Candida albicans (2:1).
Tanin có tác dụng kháng khuẩn là thành phần chủ yếu trong vỏ và lá cây bằng lăng tía. LD50 trong thử nghiệm cho uống trên chuột nhắt trắng của vỏ cây là 60 g/kg, và của lá cây là 112,5 g/kg. Trong thí nghiệm in vitro trên những chủng nấm phân lập từ người bệnh, cao nước vỏ bằng lăng tía có tác dụng ức chế đối vối 4 loại nấm đã nêu ở trên, tác dụng mạnh nhất đối với Epidermophyton inguinale.
Cao vỏ cây bằng lăng tía chỉ kìm hãm sự phát triển của nấm trong một số ngày mà không diệt nó. Đã áp dụng cồn vỏ cây bằng lăng tía 30% để điều trị bênh nấm ngoài da trên 60 bệnh nhân và đạt tỷ lệ khỏi 86%. Đã áp dụng viên bào chế từ cao vỏ cây điều trị lỵ trực khuẩn và đạt hiệu quả điều trị rất tốt đối với lỵ nhẹ, hiệu quả hơn hẳn tetracyclin và cloramphenicol, tương đương với bactrim.
Đối với bệnh lỵ mức độ vừa, thuốc không có hiệu lực bằng bactrim, và có hiệu lực tương đương tetracyclin và chloramphenicol. Ngoài ra, bằng lăng tía còn được áp dụng trong điều trị bỏng ở các mức độ khác nhau, cao đặc từ vỏ cây bằng lăng tía có tác dụng làm se khô và tạo màng thuốc che phủ trên các vết thương bỏng mà không cần phải băng, nên tránh được đau đớn cho người bệnh khi thay băng. Đồng thời cao đặc này còn có tác dụng làm giảm nhiễm khuẩn, làm rụng nhanh những hoại tử ở vết bỏng.
Áp dụng điều trị cho một nhóm bệnh nhân bỏng có diện bỏng 5 – 15% cơ thể, kết quả thấy cao thuốc tạo được màng thuốc chữa bỏng nông, gây xót; đối với bỏng sâu hơn, cao bằng lăng tía không tạo được màng thuốc liên tục, màng dễ bị rạn nứt nên tác dụng kém hơn.
Một số loài khác thuộc chi Lagerstroemia đã được nghiên cứu sàng lọc dược lý trên động vật thực nghiệm ở Ấn Độ. Cả cây trừ rễ của L. speciosa có tác dụng chống lại siêu vi khuẩn bệnh Ranikhet và nó cũng có tác dụng gây giảm huyết áp.
Cách dùng Bằng lăng tía
Để chữa các bệnh nấm ngoài da, nên dùng cao chiết với cồn 60% vỏ cây bằng lăng tía 15% bôi trên da ở nơi bị bệnh.
Để chữa lỵ, dùng vỏ cây bằng lăng tía nấu thành cao, rồi bào chế thành viên để uống. Điều trị lỵ trực khuẩn: Mỗi ngày uống từ 10 - 15 viên, mỗi viên tương đương khoảng 1,5 g dược liệu khô. Thời gian điều trị 10 - 15 ngày, thời gian hết khuẩn Shigella ngắn hơn so với dùng cloroxit hay ganidan. Đối với trẻ em dưới 5 tuổi, nên dùng với liều 3 - 6 viên/ngày, dùng liên tục trong 5 - 7 ngày.
Điều trị bỏng: Dùng cao đặc vỏ cây bằng lăng tía bôi lên những vết thương bị bỏng để che phủ vết thương mà không cần phải băng. Đối với vết thương phần mềm, cũng làm như vậy sau khi đã rửa sạch vết thương. Nếu dùng cao lỏng hâm nóng thì tạo màng tốt, dai và bám chắc vết thương nhưng vẫn gây xót. Nếu dùng bột bằng lăng tía thì dễ gây nứt nẻ, bột bám không chắc bằng cao.
Dược sĩ chuyên khoa Dược lý - Dược lâm sàng. Tốt nghiệp 2 trường đại học Mở và Y Dược TP. Hồ Chí Minh. Có kinh nghiệm nghiên cứu về lĩnh vực sức khỏe, đạt được nhiều giải thưởng khoa học. Hiện là Dược sĩ chuyên môn phụ trách xây dựng nội dung và triển khai dự án đào tạo - Hội đồng chuyên môn tại Nhà thuốc Long Châu.
Nguồn dữ liệu: nhathuoclongchau