Cam Bigarade

Số đăng ký / SKUcam-bigarade
Dạng bào chếDược liệu

Cam đắng là tên một loài thực vật thuộc chi Cam chanh là loài lai giữa bưởi và quýt hồng. Cam đắng ứng dụng trong đời sống hằng ngày dùng để lấy tinh dầu làm hương liệu trong mỹ phẩm và gia vị trong thực phẩm. Trong y học, cam đắng được sử dụng như một chất kích thích và chặn cơn thèm ăn giúp giảm cân cho người béo phì.

Chưa có hình ảnh

Thành phần Cam đắng (hoa và quả): Loài thực vật có tác dụng giảm cân và nhiều ứng dụng trong y học

Hoạt chấtHàm lượng / Nồng độ

Công dụng Cam đắng (hoa và quả): Loài thực vật có tác dụng giảm cân và nhiều ứng dụng trong y học

Theo y học cổ truyền

Cam đắng (hoa):

Trong y học cổ truyền Ba Tư, hoa của cam đắng được sử dụng làm chất bảo vệ thần kinh và chống trầm cảm.

Ở Pháp, hoa cam đắng dùng chữa trạng thái thần kinh dễ bị kích thích, đánh trống ngực, mất ngủ, động kinh, đau nửa đầu, ho do thần kinh.

Hoa dùng cất nước hoa, chữa bệnh co thắt và làm thơm thuốc.  Chất chiết xuất từ ​​nước của hoa được sử dụng để điều trị bệnh còi, sốt, viêm và các trường hợp thần kinh và kích động.

Cam đắng (quả):

Quả cam có vị ngọt, chua, tính mát, có tác dụng giải khát, mát phổi, sinh tân dịch, thanh nhiệt, giải đờm, lợi tiểu.

Chỉ thực, chỉ xác có tác dụng trợ tiêu hóa, ăn không tiêu, đầy hơi, ứ trệ, chữa ho, trừ đờm, làm ra mồ hôi, lợi tiểu.

Theo y học hiện đại

Cam đắng (hoa):

Tác dụng giảm cân:

Hoa cam đắng chứa chất synephrin có tác dụng giúp giảm cân. Synephrin thúc đẩy tăng tiêu thụ năng lượng và giảm lượng thức ăn tiêu thụ. Quá trình này giúp tiêu hủy mỡ thừa tích tụ trong cơ thể, giảm cảm giác ngon miệng, giúp giảm cân.

Tác dụng lên mạch máu và nhịp tim:

Cam đắng chứa các chất chuyển hóa tyramine N-methyltyramine, octopamine và synephrine, các chất tương tự như epinephrine, hoạt động trên thụ thể α1 adrenergic để co mạch máu, tăng huyết áp và nhịp tim.

Cam đắng (quả):

Ảnh hưởng đến tử cung và ruột cô lập:

  • Trong tử cung cô lập của chuột mang thai hoặc không mang thai: Chỉ xác và chỉ thực sự ức chế sự co bóp, nhưng cũng có trường hợp không có tác dụng.

  • Trên tử cung cô lập của thỏ mang thai hoặc không mang thai: Tác dụng không ổn định, đôi khi ức chế, đôi khi kích thích, đôi khi không hiệu quả.

  • Trong ruột chuột cô lập, thuốc có tác dụng ức chế chính (khoảng 70%).

  • Các chất chiết xuất như thuốc sắc, cồn chiết hay các chế phẩm dạng lỏng đều có tác dụng tương tự.

  • Epinephrine cũng có tác dụng ức chế nhưng thời gian tác dụng ngắn, chỉ thực và chỉ xác thì tác dụng trong thời gian dài.

Tác dụng trên tử cung, dạ dày, ruột, thử tại chỗ (theo tài liệu Trung Quốc, 1956):

  • Khi thỏ có hoặc không có mang thai, thuốc có tác dụng hưng phấn, gây tăng co bóp có thể dẫn đến chuột rút.

  • Trên dạ dày và ruột của chó cũng có tác dụng hưng phấn, co bóp tăng dần nhưng đều đặn.

  • Sự khác biệt giữa tác dụng cô lập (ức chế) và cục bộ (hưng phấn) có thể là sự tham gia của hệ thần kinh trung ương.

Tác dụng trên mạch máu, hệ tiết niệu và hô hấp:

  • Kiểm tra huyết áp trên những con chó được gây mê cho thấy huyết áp tăng, giảm chức năng thận và giảm lượng nước tiểu.

  • Trong tim ếch cô lập, nồng độ thấp làm tăng sức co bóp của tim, nhưng nồng độ cao làm giảm sức co bóp. Tác dụng ức chế tim đã được quan sát thấy ở chuột.

  • Thử nghiệm mạch máu bụng ếch thấy sự co mạch.

  • Không có tác dụng đối với sự giãn nở hoặc co thắt của khí quản, ngay cả ở chuột cống trắng.

Naringin, methyl hesperidin chiết từ chỉ xác tiêm vào màng bụng chuột cống trắng với liều 5mg thì thấy tim bị ức chế ngay sau khi tiêm. Tác dụng ức chế tối đa vào ngày thứ ba sẽ quan sát thấy khi dùng liên tục 9 ngày. Cũng có xu hướng làm giảm huyết áp.

Tác dụng làm tăng độ acid của dịch vị của vỏ quả:

Hesperidin trong vỏ có tác dụng trị bệnh trĩ, rối loạn tuần hoàn mao mạch và tĩnh mạch.

Cách dùng Cam đắng (hoa và quả): Loài thực vật có tác dụng giảm cân và nhiều ứng dụng trong y học

Hãm hoa: Cho một thìa súp hoa vào một tách nước sôi để trong 10 phút.

Hãm lá: Cho 10 – 20 g lá vào 1 lít nước sôi hoặc 3 – 4 lá vào một tách nước sôi, hãm trong 15 phút.

Quả: Sử dụng mỗi ngày hoặc có thể hơn với hàm lượng 6 – 12 g, dưới dạng ngâm rượu hay  thuốc sắc.

Vỏ quả dùng với liều 6 – 12 g, dưới dạng thuốc sắc hay ngâm rượu, thường dùng phối hợp với các vị thuốc khác.

Nội dung Y tế Được Kiểm Duyệt
Nguyễn Chí Chương
Dược sĩ Đại học Nguyễn Chí ChươngGiảng viên TTĐT Long Châu

Tốt nghiệp Đại Học Dược Hà Nội - chuyên môn Dược lâm sàng. Hiện đang là giảng viên cho Dược sĩ tại Nhà thuốc Long Châu.

Nguồn dữ liệu: nhathuoclongchau

(*) Thông tin trên chỉ mang tính chất tham khảo. Vui lòng luôn tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc chuyên gia y tế để được tư vấn chính xác cho tình trạng sức khỏe cụ thể của bạn.