Chùm ruột núi

Số đăng ký / SKUchum-ruot-nui
Dạng bào chếDược liệu

Quả Chùm ruột núi thường được dùng trong điều trị các bệnh về nước ăn chân, sưng yết hầu, cảm mạo, sốt, đái đường. Vỏ cây trị rắn cắn.

Chưa có hình ảnh

Thành phần Chùm ruột núi: Loại cây có nhiều tác dụng

Hoạt chấtHàm lượng / Nồng độ

Công dụng Chùm ruột núi: Loại cây có nhiều tác dụng

Theo y học cổ truyền

Theo “Đường bản thảo” và “Nam phương thảo mộc trạng”:

  • Quả có vị chua, ngọt, đắng, tính mát, có tác dụng bổ phế, tiêu đờm, sinh tân.

  • Rễ vị đắng, chát, tính mát, có tác dụng thu liễm và giáng áp.

Tại Ấn Độ, quả Chùm ruột được gọi là “myrobalan emblic”. Người dân ở đây lấy trái Chùm ruột làm mứt như một loại thức ăn ngọt lại có tác dụng chữa kiết lỵ, tiêu chảy nhờ hàm lượng tanin cao. Quả tươi chứa nhiều vitamin C giúp lợi tiểu, nhuận tràng. 

Vỏ cây chứa hàm lượng tanin cao nên cũng có tác dụng chữa tiêu chảy nhưng do khó ăn hơn quả và lá nên chỉ yếu dùng trong công nghiệm ngành thuộc da, nhuộm.

Theo y học hiện đại

Các hợp chất được tìm thấy trong Chùm ruột có khả năng kháng lại các tế bào khối u gồm: 

  • Norsesquiterpenoids: Phyllaemblic acid, Phyllaemblicin A, Phyllaemblicin B, Phyllaemblicin C.

  • Organic acid gallates: L - Malic acid 2 - O - gallate, Mucic acid 2 - O - gallate.

  • Hydrolyzable tannins: 1 - O - Galloyl - b - D - glucose, Corilagin, Chebulagic acid, Elaeocarpusin, Putranjivain A, Geraniin, Phyllanemblinin C, Phyllanemblinin E.

  • Flavonoids and condensed tannins: Prodelphinidin B1, Prodelphinidin B2, Epigallocatechin 3 – O - gallate, (S) - Eriodictyol 7 - (60 - O – trans -coumaroyl) - b - D - glucoside, Phyllemtannin.

 

Năm 2018, các nhà khoa học đã tìm ra 2 loại triterpenes trong rễ cây Chùm ruột núi: Secofriedelanophyllemblicine và Ursophyllemblicoside. Trong đó, Secofriedelanophyllemblicine có tác dụng gây độc tế bào vừa phải đối với các dòng tế bào ung thư K562 và HepG2 (ung thư gan).

Chùm ruột núi chứa nhiều vitamin C, nên có tác dụng trị bệnh Scorbut (bệnh thiếu vitamin C). Vitamin C trong quả Chùm ruột núi dễ hấp thu vào cơ thể hơn vitamin C tổng hợp, có tác dụng kháng khuẩn mạnh, kháng nấm và chống oxy hóa. Cao nước quả Chùm ruột núi đối kháng với tác dụng độc hại của Cs+ (Cesium), Zn2+ và chất màu vàng metanyl tương tự như lượng tương đương của vitamin C, nhưng có hiệu quả nhiều hơn chống lại những tác dụng của ethylparathion. Pb2+, Al3+ và Ni2+ so với lượng tương đương vitamin C dùng riêng.

Acid gallic và vitamin C đều có tính chất chống oxy hóa, kháng khuẩn và gây chelat hóa (Chelat là một phức hợp giữa một kim loại và một hợp chất có thể có hai mối kết hợp hoặc nhiều hơn), trong khi tannin bảo vệ vitamin C khỏi bị oxy hóa. Hoạt tính chống oxy hóa của Chùm ruột núi còn do sự có mặt của tannin có thể bị thủy ngân, như emblicamin A và B, punigluconin và pedunculagin.

Phylemblin làm tăng tác dụng của adrenalin, có tác dụng ức chế nhẹ trên hệ thần kinh trung ương và chống co thắt. Cao quả Chùm ruột núi áp dụng trên chuột nhắt trắng làm giảm tác dụng độc hại tế bào của chất gây ung thư 3, 4 – benzo(a) pyrene và cao nước của quả bảo vệ chống thương tổn nhiễm sắc thể ở đầu ngọn rễ tỏi do chiếu tia X. Những tác dụng này được quy cho hệ thống chống oxy hóa của vitamin C, acid gallic, đường khử và tannin. Bột Chùm ruột núi làm tăng hoạt tính của tế bào giết tự nhiên và độc tính của tế bào phụ thuộc kháng thể ở chuột nhắt trắng có u báng, u bạch huyết Dalton.

Dịch ép quả làm giảm nồng độ cholesterol ở người và thỏ cho uống cholesterol. Viên nén Abana bào chế từ Chùm ruột núi và một số dược liệu khác cho uống trong thời gian dài đã có tác dụng hạ lipid trên chuột cống trắng. Nồng độ β - lipoprotein và apoprotein huyết thanh giảm đáng kể; lipoprotein tỷ trọng thấp; lipoprotein tỷ trọng cao hơn tăng. Abana ức chế rõ rệt tổng hợp cholesterol ở gan và tăng thải trừ acid mật trong phân.

Cao methanol của quả Chùm ruột núi, có tác dụng ức chế enzyme transcriptase ngược của siêu vi khuẩn gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV), có thể khai thác để dự phòng và điều trị bệnh AIDS. Hoạt chất có tác dụng mạnh nhất được phân lập là putranjivain A. Cao cồn của quả, và quercetin phân lập từ cao có tác dụng bảo vệ gan in vitro ở chuột cống và chuột nhắt trắng. Cao chiết từ lá chùm ruột núi có tác dụng ức chế trên bạch cầu hạt và tiểu cầu người, xác minh một phần tác dụng chống viêm và hạ nhiệt của Chùm ruột núi. Một phần lớn công dụng trị bệnh của Chùm ruột núi có liên quan với tác dụng làm săn của tannin.

chùm ruột chứa nhiều vitamin c

Chùm ruột núi chứa nhiều vitamin C

Cách dùng Chùm ruột núi: Loại cây có nhiều tác dụng

Tùy thuộc vào từng bài thuốc cụ thể.

Nội dung Y tế Được Kiểm Duyệt
Đỗ Viết Chung
Dược sĩ Đại học Đỗ Viết ChungGiảng viên TTĐT Long Châu

Tốt nghiệp Đại học Dược Hà Nội, nhiều năm đảm nhiệm vị trí tư vấn dược phẩm và sức khỏe. Hiện đang là giảng viên cho Dược sĩ tại Nhà thuốc Long Châu.

Nguồn dữ liệu: nhathuoclongchau

(*) Thông tin trên chỉ mang tính chất tham khảo. Vui lòng luôn tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc chuyên gia y tế để được tư vấn chính xác cho tình trạng sức khỏe cụ thể của bạn.