Sói rừng
Sói rừng là một cây thuốc có nguồn gốc ở vùng Đông Á, phân bố ở Nhật Bản, Trung Quốc, Triều Tiên, Ấn Độ, Malaysia, Indonesia.
Thành phần Sói rừng: Vị thuốc trị đau nhức, tiêu viêm, phù nề
| Hoạt chất | Hàm lượng / Nồng độ |
|---|
Công dụng Sói rừng: Vị thuốc trị đau nhức, tiêu viêm, phù nề
Theo y học cổ truyền
Hoa sói rừng có vị cay, đắng, ít độc, tính hơi ấm. Rễ có nhiều tinh dầu thơm, có tác dụng giảm đau, trừ thấp, hoạt huyết, khu phong, giải độc, giảm phù nề, tiêu viêm.

Vị thuốc tiêu viêm, giảm đau nhức xương khớp
Theo y học hiện đại
Tác dụng thực bào
Cây hoa sói rừng đem đi sắc nước, nước sắc có tác dụng thực bào, có vai trò to lớn trong hỗ trợ điều trị ung thư. Tuy nhiên, dầu bay hơi cất từ toàn cây có tác dụng ức chế thực bào. Đó là lý do cần đun sôi thật kỹ toàn cây hoa sói rừng để loại bỏ dầu bay hơi trước khi dùng [Chang Minyi, 1992, sách đã dẫn].
Tác dụng chống ung thư
Tác dụng ức chế sự phát triển tế bào u báng (ascites) L – 415 và ức chế tế bào u sarcom S – 180 là 30,5 – 56,7% ở chuột nhắt trắng được tìm thấy khi các nhà nghiên cứu làm các phản ứng trên cao khô toàn cây của sói rừng [Kee Chang Huang, 1999, The pharmacology of Chinese herbs, 2nd Ed., CRC Press, Boca Raton – London – New York – Washington DC, tr. 475).
Tinh dầu hoa sói rừng có tác dụng ức chế 30% – 40% các tế bào ung thư u bảng Ehrlich, ung thư Walker và sarcoma – 37. Tinh dầu làm giảm kích thước của khối u khi tiêm trực tiếp vào khối u, thể hiện độc tính tế bào rất mạnh, ngoài ra còn kéo dài thời gian sống của động vật thí nghiệm Chang Minyi, 1992, sách đã dẫn].
Tác dụng kháng khuẩn
Cao toàn cây hoa sói rừng có tác dụng kháng khuẩn tốt trên một số loài Staphylococcus, Shigela, Salmonella, Escherichia coli và Streptococcus pyogenes [Kee Chang Huang, 1999, The pharmacology of Chinese herbs, 2nd Ed., CRC Press, Boca Raton – London – New York – Washington DC, tr. 475].
Tác dụng trên hệ miễn dịch
Lá và cành cây hoa sói rừng có tác dụng miễn dịch tương tự như rễ nhân sâm, tác dụng làm tăng chức năng của hệ miễn dịch khi dùng liều nhỏ, còn khi sử dụng liều lớn sẽ làm giảm chức năng này [Chang Minyi, 1992, sách đã dẫn].
Thử lâm sàng tác dụng chống ung thư
Toàn cây hoa sói rừng có cả tác dụng kháng khuẩn, chống ung thư, nên dùng để chữa ung thư có biến chứng nhiễm khuẩn rất tốt. Trong số các loại ung thư, sói rừng đã cho thấy có hiệu quả tốt hơn đối với các loại ung thư gan, ung thư dạ dày, ung thư tuyến tụy, ung thư bạch cầu, ung thư thực quản, sarcom lưới dòng lympho. Sau khi dùng chế phẩm từ cây hoa sói rừng, triệu chứng bệnh giảm đi, ăn ngon, sức khỏe bệnh nhân cải thiện rõ, tuổi thọ kéo dài.
Cao toàn cây sói rừng dùng lâu dài sẽ cải thiện được trạng thái lâm sàng của bệnh nhân, bệnh nhân sẽ ăn ngon miệng hơn, ăn uống được giúp bệnh nhân tăng cân. Ở một số trường hợp ung thư giai đoạn muộn, với các bệnh nhân có triệu chứng vàng da, dùng cao toàn cây mỗi ngày sẽ làm giảm nồng độ bilirubin trong máu và giảm vàng da và [Kee Chang Huang, 1999, sách đã dẫn].

Nghiên cứu cho thấy cây sói rừng còn có tác dụng kháng khuẩn
Cách dùng Sói rừng: Vị thuốc trị đau nhức, tiêu viêm, phù nề
Hoa sói rừng được dùng để chữa ho, suy nhược, đau nhức nửa đầu, viêm khớp, đau nhức xương, đụng giập, nắn bó gẫy xương. Liều dùng trong ngày là 15 – 30g toàn cây sắc uống.
Rễ sói rừng giúp làm giảm đau nhức xương. Toàn cây tươi giã nát, đắp vào chỗ đau nhức, đập giập rễ để bó xương gãy.
Toàn cây sói rừng phơi khô, sau đó tán bột, khi dùng hòa cùng với nước hoặc rượu dùng để trị các bệnh mụn nhọt, kiết lỵ. Hoa sói rừng còn được dùng để chữa viêm amidan, nhiễm khuẩn hô hấp, tiết niệu (Trung được từ hải, 1993, tập 14, tr. 137).
- Tài liệu trước đây ở Trung Quốc chỉ ra rằng hoa sói rừng làm giảm u bướu, giảm ứ đọng máu, cải thiện được chức năng tuyến tụy, chữa đau dạ dày. Nhiều tài liệu gần đây thể hiện rõ hơn vai trò của hoa sói rừng trong điều trị u rắn ác tính như carcinom tuyến tụy, ung thư dạ dày, thực quản, trực tràng, kết tràng, ung thư bàng quang, ung thư gan, phổi, giáp trạng [Chang Minyi, 1992, Kee Chang Huang, 1999, sách đã dẫn].
- Hoa sói rừng còn được chế dưới dạng viên có 0,5g cao toàn cây tương đương với 2,5g dược liệu khô, mỗi lần uống 3 viên, ngày uống 3 lần. Hoa sói rừng cũng được chế thành dung dịch tiêm, mỗi ống 1ml tương đương 1 g dược liệu khô, liều hàng ngày là 2 – 4 ống, có thể tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch (Kee Chang Huang, 1999, sách đã dẫn).
- Ở Đông Nam Á, thân và cành hoa sói rừng phơi khô, tán bột, lá có thể để dạng tươi rồi nghiền nát, bó phần xương bị gãy, hoặc đắp lên chỗ thâm tím do bị va đập. Nước hoa sót rừng sắc uống tác dụng chữa nôn (Perry và Metzger, 1980, Medicinal plants of East and Southeast Asia, The MIT Press, Cambridge – Masschusets – London, trang 78).
- Ở Hồng Kông (Trung Quốc), toàn cây hoa sói rừng được dùng chữa lỵ trực khuẩn, viêm ruột thừa, mụn nhọt, thấp khớp dạng thấp, đau lưng, viêm não. Dùng 20 – 30g một ngày để sắc uống, tán bột uống với rượu hoặc có thể làm thành dạng viên để uống, có nhiều dạng thuốc tùy vào nhu cầu và sự tiện lợi mà người dùng mong muốn. Rễ cây ngâm với rượu uống để chữa đau tức ngực. Lá sắc uống trị ho lao. Lá tươi giã nát đắp chữa rắn cắn, bầm tím, hoặc bó gãy xương.
- Để điều trị ung thư đường tiêu hoá, lá và cành hoa sói rừng được chiết thành cao khô, rồi làm thành viên, mỗi viên 0,3 g cao khô, mỗi lần dùng 4 – 6 viên, ngày uống 3 lần. Để điều trị ung thư tuyến tụy, toàn cây hoa sói rừng chiết lấy flavon, làm thành thuốc viên hoặc thuốc tiêm. Mỗi viên 200 mg và mỗi ống tiêm 25 mg. Thuốc viên, mỗi lần dùng 100 – 400 mg flavon, tuỳ theo điều kiện bệnh nhân, ngày có thể dùng 3 lần. Thuốc tiêm thường dùng mỗi lần 1 ống, ngày 2 lần [Chang Minyi, 1992, sách đã dẫn].
Tốt nghiệp Khoa Dược trường Đại học Nam Cần Thơ. Có nhiều năm kinh nghiệm công tác trong lĩnh vực Dược phẩm. Hiện đang giảng viên cho Dược sĩ tại Nhà thuốc Long Châu.
Nguồn dữ liệu: nhathuoclongchau