Từ uyển
Tử uyển là một trong những vị thuốc quen thuộc, thường xuyên được các bác sĩ Y học cổ truyền kê toa trong các bài thuốc điều trị các chứng ho. Vị thuốc này hiện có nhiều công trình nghiên cứu khoa học với các tác dụng giảm ho, tiêu đờm, lợi tiểu. Hãy cùng tìm hiểu các thông tin hữu ích về công dụng của vị thuốc độc đáo này qua bài viết dưới đây.
Thành phần Tử uyển: Vị thuốc điều trị ho hiệu quả
| Hoạt chất | Hàm lượng / Nồng độ |
|---|
Công dụng Tử uyển: Vị thuốc điều trị ho hiệu quả
Theo y học cổ truyền
Tính vị, quy kinh
Tính vị: Vị cam (ngọt), khổ (đắng), tính ôn.
Quy kinh: Phế.
Công năng, chủ trị
Công năng: Vị thuốc Tử uyển được ghi nhận trong tác phẩm kinh điển Thần nông Bản thảo với công năng tuyên Phế, hóa đàm, chỉ khái.
Chủ trị: Háo suyễn, ho khan, ho có đờm, ho ra đờm vướng máu, tiểu khó, tiểu đỏ.

Tử uyển chủ trị ho mạn tính
Theo y học hiện đại
Hoạt tính chống viêm
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng Fr-75 được chiết xuất từ Tử uyển có khả năng ức chế sự co thắt cơ vòng khí quản do KCl-, Ach- và histamin gây ra (3,91 - 250 μg/mL) bằng cách giảm nồng độ Ca2+ nội bào.
Nghiên cứu của Zhang và cộng sự (2017) cho thấy dịch chiết của rễ Tử uyển trong ethanol có tác dụng ức chế viêm của tế bào C6 do lipopolysaccharide (LPS) gây ra.
Su và cộng sự (2019) đã chứng minh rằng aster saponin B trong Tử uyển có thể ức chế tổng hợp oxide nitric cảm ứng (iNOS) và cyclooxygenase-2 (COX-2) bị ức chế bởi aster saponin B trong RAW 264.7 phụ thuộc vào liều lượng của enzyme, được kích hoạt bằng LPS. Cơ chế phân tử của nó có thể liên quan đến sự ức chế quá trình phosphoryl hóa và thoái hóa của NF-κB và sau đó ngăn chặn sự chuyển vị trí của NF-κB p65 vào nhân.
Ngoài ra, lachnophyllol acetate trong rễ Tử uyển có thể ức chế sản xuất các yếu tố gây viêm như Prostaglandin E2, Interleukin-6, Interleukin-1β và các enzyme gây viêm như nitrogen oxide synthase cảm ứng và cyclooxygenase 2.
Ngoài ra, một nghiên cứu in vivo cho thấy rằng phần Fr-50 (40 - 80 mg/kg) dịch chiết của rễ Tử uyển trong ethanol 70% giảm tần suất ho và ức chế chuột bị phù tai. Wang và cộng sự (2020) phát hiện ra rằng dịch chiết Tử uyển có thể làm giảm phù nề và xuất huyết trong bàng quang của chuột bị viêm bàng quang kẽ và làm giảm đáng kể quá trình nhiệt phân khác của các protein liên quan đến tử vong in vivo và in vitro.
Những kết quả này chỉ ra rằng các dịch chiết khác nhau của vị thuốc làm giảm phản ứng viêm bằng cách ức chế các hóa chất trung gian gây viêm.
Hoạt tính chống khối u
Bản chất của bệnh ung thư là các tế bào đã trải qua những thay đổi bất thường để trở thành tế bào ác tính. Một loạt các nghiên cứu đã chỉ ra rằng Tử uyển có tác dụng ức chế nhất định đối với sự phát triển của các tế bào khối u ác tính.
Morita và cộng sự (1996) đã thực hiện các thí nghiệm tế bào về peptide trong Tử uyển. Kết quả được thực hiện cho thấy rằng các peptide vòng thể hiện hoạt tính gây độc tế bào vừa phải chống lại các tế bào khối u nuôi cấy như L1210 (IC50 = 15 μg/mL), P388 (IC50 = 7 μg/mL) và các dòng tế bào KB (IC50 = 14 ug/mL), cho thấy hoạt tính gây độc tế bào vừa phải, trong khi peptide vòng không cho thấy hoạt động chống ung thư S-180 in vivo.
Ngoài ra, các polysaccharides hòa tan trong nước được phân lập từ Tử uyển có hoạt tính ức chế sự phát triển khối u hoàn toàn trên các tế bào SGC-7901, cho thấy rằng các polysaccharide trong Tử uyển có khả năng chống ung thư. Kết luận này cũng được chứng minh bởi Du Lei và cộng sự (2014), kết quả của việc phát hiện ra rằng polysaccharide ATP-II trong Tử uyển có thể ức chế sự tăng sinh của tế bào u thần kinh đệm C6 và sự hồi quy của u thần kinh đệm ở chuột và gây ra apoptosis trong mô khối u được cấy ghép.
Hoạt tính chống oxy hóa
Các hợp chất khác nhau trong Tử uyển bao gồm quercetin, kaempferol, hemoglobin và emodin, cho thấy tác dụng ức chế mạnh mẽ việc tạo ra các gốc tự do superoxide, trong đó quercetin và kaempferol có thể ức chế sự tan huyết, peroxy hóa lipid và tạo ra gốc superoxide. Tương tự như quercetin và kaempferol, scopoletin và emodin cũng cho thấy tác dụng ức chế sản xuất gốc superoxide. Ngoài ra, acid caffeo quinic trong Tử uyển còn có tác dụng chống oxy hóa mạnh.
Hoạt tính chống trầm cảm
Trầm cảm là một mối đe dọa sức khỏe cộng đồng nghiêm trọng và các nghiên cứu đã chỉ ra rằng cả yếu tố di truyền và căng thẳng tinh thần đều có thể gây ra trầm cảm.
Yupeng và cộng sự (2018) đã sử dụng kỹ thuật UHPLC-Q-TOF-MS để xác định 131 hợp chất trong Tử uyển và sử dụng mô hình lát não để đánh giá tác động của 50 hợp chất trong số này đối với vùng trần trước (ventral tegmental area - VTA).
Khi nghiên cứu tác dụng của dopamine đối với hoạt động tự phát của các tế bào thần kinh, 5 trong số 50 hợp chất được xác định trong Tử uyển (tức là acid chlorogenic, hesperidin, acid ferulic, acid protocatechuic và quercetin) đã được tìm thấy làm tăng đáng kể tác dụng thần kinh, ảnh hưởng đến tốc độ sản xuất dopamine của VTA, cho thấy 5 hợp chất này có tác dụng chống trầm cảm đáng kể.
Xác định đồng thời 9 hợp chất trong Tử uyển như kaempferol, quercetin, acid chlorogen, acid caffeic và acid ferulic có thể đóng vai trò quan trọng trong thuốc chống trầm cảm. Tuy nhiên, cơ chế chống trầm cảm của nó vẫn cần nghiên cứu thêm.

Dịch chiết Tử uyển có hoạt tính chống trầm cảm
Hoạt tính kháng khuẩn, kháng virus
Xiao-Wu và cộng sự (2016) đã tiến hành thử nghiệm kháng khuẩn in vitro trên dịch chiết ethanol và chiết xuất alkaloid của Tử uyển bằng phương pháp pha loãng ống nghiệm và phương pháp đĩa giấy, kết quả cho thấy chiết xuất ethanol của Tử uyển có tác dụng ức chế mạnh đối với Staphylococcus, Pasteurella suis, Streptococcus và Salmonella. Ngoài ra, chiết xuất alkaloid của Tử uyển còn thể hiện tác dụng ức chế và kháng khuẩn mạnh đối với Staphylococcus aureus, Pasteurella suis, Escherichia coli, Streptococcus và Salmonella.
Astershionone C - một triterpenoid từ rễ và thân rễ của Tử uyển, cho thấy hoạt động gây độc tế bào trong tế bào virus B bằng cách ức chế sự sao chép DNA của chúng. Ngoài ra, triterpenoid shion-22-methoxy-20(21)-en-3-one và shion-22(30)-en-3,21-dione trong Tử uyển có hoạt tính ức chế riêng biệt với HBeAg (IC50 = 0,83 µg/mL) và HA (IC50 = 11,18 µg/mL), cũng như HBsAg (IC50 = 0,89 và 4,49 µg/mL).
Hiện tại, người ta chủ yếu báo cáo rằng Terpenoids trong Tử uyển có hoạt tính chống virus nhất định nhưng có rất ít nghiên cứu về nguyên lý chống virus vì vậy cần nghiên cứu thêm.
Một số hoạt tính khác
Bên cạnh các hoạt động nêu trên, các hoạt tính sinh học khác cũng được báo cáo. Scopoletin trong Tử uyển có hiệu quả trong bệnh đái tháo đường và giảm căng thẳng oxy hóa. Polyphenol giàu chiết xuất từ rễ Tử uyển có thể làm giảm đáng kể trọng lượng cơ thể và nồng độ đường huyết của chuột.
Trong một thí nghiệm in vivo, ở liều 0,16 g/mL và 0,8 g/mL, dịch chiết Tử uyển thúc đẩy đáng kể quá trình vận chuyển than hoạt tính qua ruột non, làm giảm lượng phân dư thừa và tăng hàm lượng nước trong phân ở ruột già.
Ngoài ra, dịch chiết Tử uyển có thể làm giảm hiệu quả tổn thương bệnh lý đại tràng do loperamid gây ra. Các nghiên cứu in vitro đã chỉ ra rằng dịch chiết Tử uyển có thể ức chế hiệu quả sự hấp phụ của Ach và calci clorua trong tá tràng chuột. Do đó, người ta suy đoán rằng dịch chiết Tử uyển có thể làm giảm táo bón chủ yếu bằng cách đối kháng sự liên kết của acetylcholine với các thụ thể muscarinic, ức chế dòng Ca2+ và kích thích phản ứng chống viêm.
Cách dùng Tử uyển: Vị thuốc điều trị ho hiệu quả
Ngày dùng từ 5 g đến 9 g, thường phối hợp với các vị thuốc khác như Khoảng đông hoa, Bách bộ.
Từng làm ở Viện ISDS, nhiều năm cộng tác với CDC Thái Nguyên triển khai dự án phòng chống HIV/AIDS, 2 năm cộng tác với WHO.
Nguồn dữ liệu: nhathuoclongchau