Bạc thau
Ở Việt Nam, các loài thuộc chi Argyreia thường được gọi là bạc thau, bạch hoa đằng, lú lớn hay thảo bạc, mọc phổ biến ở nhiều nơi. Theo các công bố trên thế giới, chi Argyreia Lour. có khoảng 40 - 90 loài. Ở nước ta, hiện đã phát hiện được khoảng 18 loài. Lá và rễ của cây bạc thau thường được dùng trong y học dân gian làm thuốc chống viêm.
Thành phần Bạc thau
| Hoạt chất | Hàm lượng / Nồng độ |
|---|
Công dụng Bạc thau
Theo y học cổ truyền
Bạc thau có vị hơi chua, hơi đắng, nhạt, tính mát, không độc. Vì những đặc tính trên nên cây có tác dụng tiêu viêm, thanh nhiệt, lợi thủy, giải độc và sát trùng vết thương.
Theo y học hiện đại
Cây bạc thau có tác dụng trị bí tiểu, đi đái ít một rát buốt, nước tiểu đục, bạch đới, ngứa lở, mụn nhọt, sốt rét, ho, viêm phế quản cấp và mạn.

Cây bạc thau có tác dụng tiêu viêm, thanh nhiệt, lợi thủy, giải độc và sát trùng
Cách dùng Bạc thau
Lá hoặc thân mang lá chữa ho, nhất là ho trẻ em, viêm phế quản cấp và mãn tính, bí đái, đái rắt, đái buốt, nước tiểu đục, khí hư, bạch đới. Ngoài ra, cây bạc thau còn có tác dụng chữa sốt rét với cách dùng sắc ngày 6 – 12g khô hoặc 30 – 40g tươi.
Cách dùng ngoài: Lấy lá bạc thau tươi hoặc ngọn mang lá tươi giã nát, đắp vào chỗ gãy xương, lở ngứa, mụn nhọt để hút mủ và lên da non. Dùng ngoài tươi không kể liều lượng.
Từng làm ở Viện ISDS, nhiều năm cộng tác với CDC Thái Nguyên triển khai dự án phòng chống HIV/AIDS, 2 năm cộng tác với WHO.
Nguồn dữ liệu: nhathuoclongchau