Cây Trinh Nữ

Số đăng ký / SKUcay-trinh-nu
Dạng bào chếDược liệu

Cây Trinh nữ có tên khoa học là Mimosa pudica L. (Mimosaceae) còn được gọi là cây xấu hổ, là một loại cây nhỏ mọc hoang ở nhiều nơi trên nước ta như ven đường, bờ ruộng, trên đồi. Cây Trinh nữ có hoạt tính kháng khuẩn, chống co giật, chống trầm cảm, chữa lành vết thương, lợi tiểu và các hoạt tính dược lý khác. Loại thảo dược này đã được sử dụng trong Y học cổ truyền từ lâu đời, trong điều trị suy nhược thần kinh, mất ngủ, viêm phế quản, đau nhức xương khớp.

Chưa có hình ảnh

Thành phần Cây Trinh nữ: Loại cây quen thuộc có nhiều tác dụng chữa bệnh

Hoạt chấtHàm lượng / Nồng độ

Công dụng Cây Trinh nữ: Loại cây quen thuộc có nhiều tác dụng chữa bệnh

Theo y học cổ truyền

Theo Đông y, cây Trinh nữ có vị ngọt, hơi se, tính hơi hàn, có độc, có tác dụng an thần, làm dịu cơn đau, chống ho, long đờm, tiêu viêm, tiêu tích, thanh nhiệt, hạ sốt, lợi tiểu. Cây Trinh nữ có tác dụng:

  • Chữa suy nhược thần kinh, mất ngủ, viêm phế quản, viêm kết mạc cấp, viêm gan, viêm dạ dày - ruột, phong thấp tê bại, bệnh gút, sốt, cao huyết áp. Ngày 15 - 25g, sắc uống.
  • Dùng ngoài trị chấn thương, viêm mủ da. Lấy cây tươi, giã, đắp. Rễ và hạt chữa hen suyễn và gây nôn. Rễ còn chữa sốt rét, kinh nguyệt không đều.

Cây trinh nữ: Loại cây quen thuộc có nhiều tác dụng chữa bệnh 4.png

Theo Đông y cây Trinh nữ có tác dụng chữa suy nhược thần kinh, mất ngủ

Theo y học hiện đại

Chữa lành vết thương

Rễ của cây Trinh nữ đã được nghiên cứu cho hoạt động chữa lành vết thương bằng cách kết hợp methanolic và chiết xuất nước tổng hợp ở nồng độ 0,5% (w/w), 1% (w/w) và 2% (w/w). Hoạt động chữa lành vết thương đã được nghiên cứu trong ba loại mô hình ở chuột và ước tính các thông số sinh hóa. 

Điều trị vết thương bằng ointment chứa 2% (w/w) chiết xuất methanolic và 2% (w/w) chiết xuất nước tổng hợp đã cho thấy hoạt động làm lành vết thương đáng kể (P<0,001). Chiết xuất methanolic thể hiện hoạt động chữa lành vết thương tốt có lẽ là do thành phần phenol.

Tái tạo thần kinh tọa

Một chiết xuất cây Trinh nữ được tiêm với liều 1,6 mg/100 g tiêm mỗi 4 ngày lên đến 120 ngày ở chuột bị tổn thương thực nghiệm ở dây thần kinh tọa, đã cho thấy kết quả cao hơn 30 - 40% trong quá trình tái tạo thần kinh tọa so với nhóm sử dụng hydrocortison.

Cây trinh nữ: Loại cây quen thuộc có nhiều tác dụng chữa bệnh 5.png

Chiết xuất từ cây Trinh nữ có tác dụng tái tạo thần kinh toạ trên mô hình chuột

Hành động chống trầm cảm

Ở Mexico, chiết xuất nước từ lá khô cây Trinh nữ được sử dụng để giảm triệu chứng trầm cảm. Kết quả cho thấy clomipramine (1,25 mg/kg, tiêm phúc mô), desipramine (2,14 mg/kg, tiêm phúc mô), và lá cây Trinh nữ (6.0 mg/kg và 8.0 mg/kg, tiêm phúc mô) làm giảm sự bất động trong thử nghiệm bơi cưỡng bức và tăng tốc độ phản ứng nhận được trong thử nghiệm DRL-72. Những dữ liệu này cho thấy rằng cây Trinh nữ tạo ra tác dụng chống trầm cảm ở chuột.

Hành động chống co giật

Nước sắc từ lá cây Trinh nữ được tiêm phúc mô với liều 1000 - 4000 mg/kg bảo vệ chuột chống lại cơn co giật do pentylenetetrazole và strychnine gây ra. Cây trinh nữ không có tác dụng chống lại co giật do picrotoxin. Nó cũng đối kháng với N-methyl-D-aspartate. Những đặc tính này có thể giải thích việc sử dụng nó trong y học cổ truyền châu Phi.

Tác dụng tăng đường huyết

Chiết xuất etanolic của lá cây Trinh nữ cho chuột uống với liều 250 mg/kg cho thấy tác dụng tăng đường huyết đáng kể.

Tác dụng lợi tiểu

Nước sắc từ lá cây Trinh nữ với liều 200, 500, 1000 và 2000 mg/kg ở chuột và chó cho thấy hoạt tính lợi tiểu. Hoạt động ở chuột với liều 250 mg/kg được tìm thấy đạt 82% so với nhóm chuột được điều trị bằng thuốc lợi tiểu tiêu chuẩn (hydrochlorthiazide 2,5 mg/kg). Có sự giảm đáng kể (trên 50%) của sự bài tiết Na+ và Cl- mà không ảnh hưởng đến sự bài tiết K+. Nó có thể được kết hợp như một loại thuốc lợi tiểu có tác dụng vừa phải với bất kỳ thuốc lợi tiểu hiện đại nào gây ra mất K+.

Cây trinh nữ: Loại cây quen thuộc có nhiều tác dụng chữa bệnh 6.png

Cây Trinh nữ có tác dụng lợi tiểu vừa

Hoạt tính kháng khuẩn

Hoạt tính kháng khuẩn của các chiết xuất từ toàn cây Trinh nữ lần lượt trong ether dầu hoả, chloroform, ethyl acetate, methanol và nước đã được nghiên cứu đối với các chủng vi khuẩn Gram dương và Gram âm khác nhau bằng cách sử dụng vùng ức chế. 

Cả phương pháp khuếch tán trên giếng thạch và phương pháp khuếch tán đĩa thạch đều được sử dụng để đánh giá hiệu quả kháng khuẩn của chiết xuất cây Trinh nữ. 

Các vi sinh vật được sử dụng trong nghiên cứu là: Escherichia coli, Staphylococcus aureus, Staphylococcus albus, Proteus Vulgaris, Salmonella typhi, Salmonella paratyphi A, Salmonella paratyphi B, Shigella flexneri, Klebsiella pneumonia, và Pseudomonas aeruginosa

Nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) của chiết xuất methanolic của cây Trinh nữ được xác định bằng phương pháp khuếch tán giếng thạch. Các kháng sinh tham chiếu chloramphenicol và ampicillin cũng đã được thử nghiệm chống lại các vi sinh vật nói trên được sử dụng trong thử nghiệm và kết quả được so sánh với chiết xuất của thực vật. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng chiết xuất toàn cây Trinh nữ có hoạt tính kháng khuẩn tốt giữa phạm vi 7 - 18mm so với mầm bệnh được sử dụng để sàng lọc.

Cách dùng Cây Trinh nữ: Loại cây quen thuộc có nhiều tác dụng chữa bệnh

Dùng cây Trinh nữ với liều 10 - 20g (sắc uống).

Nội dung Y tế Được Kiểm Duyệt
Nguyễn Tuấn Trịnh
Dược sĩ Đại học Nguyễn Tuấn TrịnhGiảng viên Trung tâm Đào tạo FPT Long Châu

Từng làm ở Viện ISDS, nhiều năm cộng tác với CDC Thái Nguyên triển khai dự án phòng chống HIV/AIDS, 2 năm cộng tác với WHO.

Nguồn dữ liệu: nhathuoclongchau

(*) Thông tin trên chỉ mang tính chất tham khảo. Vui lòng luôn tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc chuyên gia y tế để được tư vấn chính xác cho tình trạng sức khỏe cụ thể của bạn.