Đại (Hoa)
Ở nước ta, đại được trồng từ lâu đời ở các đình chùa và ở nhiều nơi vùng đồng bằng và miền núi vì dáng đẹp, hoa thơm. Công dụng: Thuốc nhuận tràng, tẩy, chữa táo bón, bí tiểu.
Thành phần Cây Đại (Hoa sứ): Loại cây cảnh được trồng phổ biến ở Việt Nam
| Hoạt chất | Hàm lượng / Nồng độ |
|---|
Công dụng Cây Đại (Hoa sứ): Loại cây cảnh được trồng phổ biến ở Việt Nam
Theo y học cổ truyền
Hoa đại có vị ngọt, tính bình, thơm, có tác dụng thanh nhiệt, lợi tiểu, hòa vị, nhuận tràng, tiêu đờm, trừ ho, bổ phổi, trừ thấp, lương huyết. Có tác dụng hạ huyết áp rất rõ, ở hoa khô mạnh hơn ở những hoa tươi.
Vỏ thân và rễ cây đại có vị đắng, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, tả hạ, tiêu thũng, sát trùng. Lá có tác dụng hành huyết, tiêu viêm. Nhựa mủ có tác dụng làm mềm những tổ chức rắn như chai chân.
Theo y học hiện đại
Tác dụng kháng khuẩn
G. H. Mahran (1974, Planta Medica, 5: 226) đã lấy từ rễ, lá và vỏ đại một chất đắng gọi là plumierit, một glucozit không có trong hoa. Plumierit là một chất bột trắng, có tinh thể, không mùi, vị đắng, độ chảy 155 - 156oC tan trong nước, trong cồn etylic, metylic, etylaxetat. ít tan trong ête, clorofoc, không tan trong ête dầu hoả. Trong hoa có một ít tinh dầu mùi thơm mát.
Viện Vệ sinh dịch tễ và Viện Y học dân tộc trung ương đã xác định lá, hoa và rễ cây đại đều có tác dụng kháng khuẩn. Nước ép từ lá đại tươi có tác dụng đối với các chủng Staphylococcus anreus, Shigella flexneri, Shigella dysenteriae và Bacillus subtilis. Chất kháng khuẩn bền vững đối với nhiệt độ cao và nước sắc từ dược liệu cũng có tác dụng tương tự. Theo tài liệu nước ngoài, dịch chiết nước từ cây đại có tác dụng ức chế sự phát triển một số vi khuẩn.
Tác dụng hạ huyết áp và giãn mạch
Năm 1962, khoa dược lý trường Sĩ quan quân y Việt Nam có nghiên cứu tác dụng của hoa đại (dạng nước sắc 10 - 20%, 100%) đã đi đến một số kết luận sau đây:
Dịch chiết hoa đại (1:1) tiêm tĩnh mạch trên chuột cống trắng, mèo, chó và thỏ đều có tác dụng hạ huyết áp. Hoa khô có tác dụng mạnh hơn hoa tươi.
Với liều lượng 0,5g/kg thận trọng, tác dụng hạ huyết áp xuất hiện sau khi dùng thuốc nửa phút và kéo dài trong vòng 5 phút, mức hạ huyết áp đạt 28 + 8% so với đối chứng. Dịch chiết hoa đại còn có tác dụng làm giảm sự co bóp cơ tim ếch cô lập ở nồng độ 5%, sau đó làm tim ngừng đập ở thời kỳ tâm trương, ngoài ra còn có tác dụng làm giãn mạch ngoại vi.
Tác dụng hạ huyết áp xuất hiện nhanh và tương đối bền vững. So với tác dụng của ba gạc (Rauvoifia verticiliata) thì ba gạc tác dụng chậm hơn hoa đại. Độ độc của hoa đại cũng ít hơn ba gạc. Qua thí nghiệm liều dùng cho người có thể tới 60g một ngày, chia làm 2 lần uống.
Tác dụng của hoa đại
Hoa dùng trong các trường hợp:
Dự phòng say nắng.
Viêm ruột, lỵ.
Khó tiêu, kém hấp thu, kém dinh dưỡng ở trẻ em.
Nhiễm khuẩn, viêm gan.
Viêm phế khí quản, ho.
Người ta dùng hoa đại làm thuốc chữa bệnh ưa chảy máu có kết quả tốt.
Tinh dầu hoa đại có tác dụng chống nấm. Ở Ấn Độ, nụ hoa đại nhai với lá trầu không là thuốc hạ sốt.
Các tác dụng khác
Vỏ thân cây đại có tác dụng kích thích, dạng nước sắc có tác dụng nhuận tràng, tẩy xổ, hạ sốt. Vỏ đại còn có tác dụng hạ đường huyết.
Rễ cây đại có tác dụng tẩy mạnh và độc đối với súc vật.
Nhựa mủ của cây có tác dụng gây xung huyết da, thường gây ngộ độc nếu dùng liều lớn.
Cách dùng Cây Đại (Hoa sứ): Loại cây cảnh được trồng phổ biến ở Việt Nam
Vỏ thân và vỏ rễ dùng dưới hình thức thuốc nhuận tràng, tẩy mạnh, còn có tác dụng thủy thũng, bí đại tiểu tiện. Dùng vỏ thái mỏng sao thơm 5 - 10g sắc trong 200ml, chia làm 3 lần uống trong ngày để tẩy và 4 - 5g để nhuận tràng. Có thể, dùng nhựa mủ của thân với liều 0,50 - 0,80g dưới dạng nhũ dịch.

Có tác dụng hạ huyết áp rất rõ, ở hoa khô mạnh hơn ở những hoa tươi
Ở Papua Niu Ghinê dịch lá dùng đắp vết thương rắn cắn hoặc dùng nhựa cây đắp lên chỗ đau.
Hoa đại khô dùng dưới dạng nước sắc để điều trị một số trường hợp rối loạn mạch và cao huyết áp. Tác dụng hạ huyết áp của hoa đại xuất hiện nhanh và tương đối bền vững. Ngày dùng 10 – 15g dạng thuốc sắc. Dùng riêng hoặc phối hợp với nhiều vị thuốc khác theo công thức “chè giảm áp” của Viện Quân y 108. Nước sắc hoa đại còn chữa cảm sốt, ho đờm, kiết lỵ, bệnh ưa chảy máu. Ở Lào đã dùng thuốc sắc hoa đại chữa một số trường hợp viêm tắc động mạch đạt kết quả tốt. Nhân dân Campuchia dùng hoa đại chữa bệnh hắc lào.
Vỏ dùng chữa thủy thũng, tiểu tiện ít hoặc táo bón lâu ngày, viêm chân răng. Ngày dùng 4 – 8 g để nhuận tràng, 8 – 20g để tẩy, 12 – 20g ngâm rượu ngậm chữa viêm chân răng. Ở Ấn Độ, người ta còn dùng vỏ trị ỉa chảy và dùng vỏ rễ để trị bệnh lậu và loét đường sinh dục. Nhựa dùng như vỏ thân, nhưng với liều thấp hơn, còn dùng chữa chai chân và vết loét. Ở Ấn Độ, người ta dùng như chất gây sung huyết để trị thấp khớp và còn dùng xổ.
Những người làm thuốc ở huyện Kim Sơn, Ninh Bình dùng vỏ đại sắc hoặc hãm uống 3 - 4 lần trong ngày chữa phù thận đạt kết quả tốt.
Tốt nghiệp Đại học Dược Hà Nội, với hơn 10 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực Dược phẩm. Hiện là giảng viên giảng dạy các môn Dược lý, Dược lâm sàng,...
Nguồn dữ liệu: nhathuoclongchau