Doxorubin 2mg/ml
Doxorubin 2mg/ml, dạng Dung dịch tiêm, quy cách Hộp 1 lọ 25 ml
Thành phần Doxorubin 2mg/ml
| Hoạt chất | Hàm lượng / Nồng độ |
|---|---|
| Doxorubicine | 2mg/ml |
Công dụng Doxorubin 2mg/ml
Ðường tĩnh mạch: Liều khuyến cáo khi dùng đơn thuần là 60-75mg/m2 mỗi ba tuần, phụ thuộc vào mức dự trữ của tủy xương. Liều thấp hơn (60mg/m2) được khuyến cáo ở những bệnh nhân có điều trị trước đó, người già, xâm lấn tủy xương có dự trữ tủy xương kém. Liều trên có thể cho bằng cách tiêm một lần duy nhất hay chia nhiều lần dùng trong 2, 3 ngày liên tục. Liều 30mg/m2/ngày tiêm tĩnh mạch 3 ngày liên tục được đề nghị trong điều trị ở trẻ em; Ðợt điều trị này được lập lại mỗi 4 tuần. Liều tích tụ Doxorubicin qua đường tĩnh mạch, bất chấp phác đồ liều, không nên quá 550mg/m2. Hiện nay, Doxorubicin cũng được sử dụng rộng rãi trong hoá trị liệu phối hợp với liều thông thường là 25-50mg/m2 mỗi 3-4 tuần nếu được phối hợp với các thuốc chèn tủy khác, và ở liều 60-75mg/m2 nếu được phối hợp với các thuốc không chèn ép tủy. Nên giảm liều Doxorubicin ở bệnh nhân suy gan để ngăn chặn sự gia tăng độc tính. Doxorubicin bài tiết qua thận thấp, suy thận trung bình thường không cần thiết phải giảm liều. Ðường nhỏ giọt bàng quang: Liều khuyến cáo trong điều trị tại chỗ trong bàng quang là 30-50mg mỗi lần nhỏ giọt; lập lại mỗi tuần hay mỗi tháng. Những vấn đề liên quan của Doxorubicin qua đường tĩnh mạch không xảy ra khi dùng đường nhỏ giọt bàng quang, sự hấp thu thuốc vào tuần hoàn toàn thân rất thấp. Doxorubicin không có hoạt tính khi uống, và không được dùng tiêm bắp hay tiêm trong vỏ. Doxorubicin nên được dùng duy nhất bằng đường truyền tĩnh mạch chậm, hay nhỏ giọt bàng quang qua catheter. Khi truyền tĩnh mạch Doxorubicin, khuyến cáo nên cho thuốc qua ống của một dịch truyền tĩnh mạch nước muối sinh lý đang truyền bình thường sau khi đã kiểm tra rằng kim đã được đặt đúng vào tĩnh mạch. Phương pháp này giảm thiểu nguy cơ thuốc lan vào mô xung quanh và nên bảo đảm cho tĩnh mạch được truyền tiếp tục nước muối sinh lý sau đó. Doxorubicin không được pha trộn với heparin vì có thể tạo kết tủa. Doxorubicin có thể được sử dụng phối hợp với các thuốc hoá trị liệu kháng ung thư nhưng không được trộn trong cùng 1 ống chích. Trong trường hợp nhỏ giọt bàng quang, Doxorubicin nên được hoà tan với nước pha tiêm ở nhiệt độ phòng. Nồng độ khuyến cáo là 1mg/ml.
Cách dùng Doxorubin 2mg/ml
Ðường tĩnh mạch: Liều khuyến cáo khi dùng đơn thuần là 60-75mg/m2 mỗi ba tuần, phụ thuộc vào mức dự trữ của tủy xương. Liều thấp hơn (60mg/m2) được khuyến cáo ở những bệnh nhân có điều trị trước đó, người già, xâm lấn tủy xương có dự trữ tủy xương kém. Liều trên có thể cho bằng cách tiêm một lần duy nhất hay chia nhiều lần dùng trong 2, 3 ngày liên tục. Liều 30mg/m2/ngày tiêm tĩnh mạch 3 ngày liên tục được đề nghị trong điều trị ở trẻ em; Ðợt điều trị này được lập lại mỗi 4 tuần. Liều tích tụ Doxorubicin qua đường tĩnh mạch, bất chấp phác đồ liều, không nên quá 550mg/m2. Hiện nay, Doxorubicin cũng được sử dụng rộng rãi trong hoá trị liệu phối hợp với liều thông thường là 25-50mg/m2 mỗi 3-4 tuần nếu được phối hợp với các thuốc chèn tủy khác, và ở liều 60-75mg/m2 nếu được phối hợp với các thuốc không chèn ép tủy. Nên giảm liều Doxorubicin ở bệnh nhân suy gan để ngăn chặn sự gia tăng độc tính. Doxorubicin bài tiết qua thận thấp, suy thận trung bình thường không cần thiết phải giảm liều. Ðường nhỏ giọt bàng quang: Liều khuyến cáo trong điều trị tại chỗ trong bàng quang là 30-50mg mỗi lần nhỏ giọt; lập lại mỗi tuần hay mỗi tháng. Những vấn đề liên quan của Doxorubicin qua đường tĩnh mạch không xảy ra khi dùng đường nhỏ giọt bàng quang, sự hấp thu thuốc vào tuần hoàn toàn thân rất thấp. Doxorubicin không có hoạt tính khi uống, và không được dùng tiêm bắp hay tiêm trong vỏ. Doxorubicin nên được dùng duy nhất bằng đường truyền tĩnh mạch chậm, hay nhỏ giọt bàng quang qua catheter. Khi truyền tĩnh mạch Doxorubicin, khuyến cáo nên cho thuốc qua ống của một dịch truyền tĩnh mạch nước muối sinh lý đang truyền bình thường sau khi đã kiểm tra rằng kim đã được đặt đúng vào tĩnh mạch. Phương pháp này giảm thiểu nguy cơ thuốc lan vào mô xung quanh và nên bảo đảm cho tĩnh mạch được truyền tiếp tục nước muối sinh lý sau đó. Doxorubicin không được pha trộn với heparin vì có thể tạo kết tủa. Doxorubicin có thể được sử dụng phối hợp với các thuốc hoá trị liệu kháng ung thư nhưng không được trộn trong cùng 1 ống chích. Trong trường hợp nhỏ giọt bàng quang, Doxorubicin nên được hoà tan với nước pha tiêm ở nhiệt độ phòng. Nồng độ khuyến cáo là 1mg/ml.
Tác dụng phụ Doxorubin 2mg/ml
- Ðường truyền tĩnh mạch: Chèn ép tủy và độc tính trên tim là 2 tác dụng phụ chính yếu. - Rụng tóc là tác dụng phụ thường gặp xuất hiện vào khoảng 85%. Viêm miệng xuất hiện vào khoảng 5-10 ngày sau khi điều trị. Rối loạn tiêu hoá như buồn nôn, nôn và tiêu chảy cũng có thể có. - Những sang thương mô, bao gồm hoại tử, xuất hiện khi thuốc bị thoát mạch trong lúc truyền; đặc biệt ở các tĩnh mạch nhỏ, hay cùng một tĩnh mạch được sử dụng lặp lại, xơ vữa tĩnh mạch đã được báo cáo. - Ðường nhỏ giọt bàng quang: có thể gây những tác dụng phụ sau: tiểu máu, cảm giác châm chích hay nóng bỏng bàng quang và niệu đạo; rối loạn tiểu. Các tác dụng phụ này thường là nhẹ và tạm thời.
Nguồn dữ liệu: thuocbietduoc