Đương quy (Ngọn, Rễ, Thân)
Đương quy (Radix Angelicae sinensis) là rễ phơi hay sấy khô của cây đương quy. Công dụng: Thuốc bổ máu, chữa bệnh thiếu máu xanh xao, gầy yếu, mệt mỏi; đau đầu, đau lưng, đau ngực, viêm khớp, chân tay tê nhức, táo bón, mụn nhọt lở ngứa, kinh nguyệt không đều, đau bụng kinh.
Thành phần Đương quy: Loại sâm quý chữa bệnh phụ khoa
| Hoạt chất | Hàm lượng / Nồng độ |
|---|
Công dụng Đương quy: Loại sâm quý chữa bệnh phụ khoa
Theo y học cổ truyền
Theo đông y, đương quy có vị ngọt, hơi đắng, hơi cay, tính ôn, mùi thơm. Vào 3 kinh tâm, can, tỳ, có tác dụng bổ huyết, hoạt huyết, nhuận táo, điều kinh, thống kinh, dưỡng gân, tiêu sưng, nhuận tràng.
Đương quy là một vị thuốc rất phổ thông trong đông y. Nó là đầu vị trong thuốc chữa bệnh phụ nữ, đồng thời dùng trong nhiều đơn thuốc bổ và trị các bệnh khác. Trong Y học cổ truyền, đương quy được dùng điều trị chứng huyết hư trường táo, kinh nguyệt không đều, huyết ứ trệ, đau kinh, bế kinh; các bệnh thai tiền sản hậu, đau tê chân tay, tổn thương do té ngã, tâm can huyết hư; trị nhọt lở loét hoặc khái suyễn.
Theo y học hiện đại
Tác dụng trên tử cung và cơ trơn
Trên tử cung, đương quy có 2 loại tác dụng: Một loại gây kích thích và một loại gây ức chế.
Cụ thể là:
Ức chế sự co cơ tử cung, làm giãn nghỉ sự căng của tử cung và trực tiếp làm cho hành kinh không đau.
Do cơ tử cung giãn nghỉ, tăng sự lưu thông huyết nên cải thiện sự dinh dưỡng tại chỗ, giúp tử cung nhanh chóng trở lại bình thường, gián tiếp chữa chứng thống kinh (giảm đau bụng kinh).
Đương quy có tác dụng làm cho ruột trơn và có thể chữa táo bón, giảm sung huyết vùng xương chậu do đó làm giảm đau trong lúc hành kinh.
Nghiên cứu được thực hiện năm 2002 cho thấy đương quy có thể sửa chữa các vấn đề về rụng trứng (đặc biệt là giai đoạn hoàng thể của chu kỳ kinh nguyệt) dẫn đến cải thiện khả năng sinh sản.
Bên cạnh đó, đương quy còn có tác dụng kích thích sản sinh estrogen tự nhiên, giúp cân bằng nội tiết tố, giảm tình trạng hội chứng tiền kinh nguyệt và lạc nội mạc tử cung, cải thiện triệu chứng cho phụ nữ mãn kinh và sau mãn kinh.
Tác dụng trên hiện tượng thiếu vitamin E
Theo nghiên cứu của Nghê Chương Kỳ khi cho chuột thiếu vitamin E ăn đương quy thì 38% chuột không có những triệu chứng thiếu vitamin E nữa. Các vị thuốc dâm dương hoắc, đan sâm, tục đoạn và xuyên khung cũng có tác dụng tương tự.
Tác dụng trên trung khu thần kinh
Theo nghiên cứu tại Nhật Bản, tinh dầu của đương quy có tác dụng trấn tĩnh hoạt động của đại não làm hưng phấn trung khu tủy sống, dẫn đến tê liệt, hạ huyết áp, giảm nhịp tim và nhiệt độ cơ thể, kèm co quắp cơ thể. Nhưng nếu tiêm dưới da thỏ thì các hiện tượng trên không rõ rệt, chỉ thấy liệt hô hấp trước, rồi đến liệt tim.
Tác dụng trên huyết áp và hô hấp
Theo nghiên cứu của Schmidt, Y Bác An và Trần Khắc Khôi, tinh dầu của đương quy có tác dụng hạ huyết áp, nhưng thành phần không bay hơi của đương quy lại có tính chất làm co cơ trơn ở thành mạch máu làm tăng huyết áp.
Theo nghiên cứu của Lưu Thiệu Quang, Trương Phát Sơ, Trương Diệu Đức cho thấy tùy theo liều lượng tinh dầu đương quy tiêm vào cơ thể mà ảnh hưởng đến hô hấp và huyết áp của cơ thể khác nhau:
Liều nhỏ: Huyết áp hơi hạ thấp, hô hấp hơi bị kích thích hoặc bị ảnh hưởng rất ít.
Liều trung bình: Huyết áp hạ thấp nhiều hơn, hô hấp khó khăn.
Liều lớn: Huyết áp hạ rất mạnh, hô hấp khó khăn rõ rệt, cuối cùng hô hấp ngừng lại, gây chết.
Tác dụng trên cơ tim
Trong đương quy có thành phần có tác dụng giống với quinidin, nên có tác dụng trên tim mạch (theo nghiên cứu của Ngụy Liên Cơ).
Tác dụng kháng sinh
Theo nghiên cứu của Lưu Quốc Thanh (năm 1950), nước sắc đương quy có tác dụng kháng sinh đối với trực trùng lỵ, tụ cầu trùng, trực khuẩn thương hàn, liên cầu khuẩn tán huyết,.... Tinh dầu lại có tác dụng ức chế trực khuẩn mủ xanh, trực khuẩn coli, tụ cầu khuẩn vàng.
Tác dụng giảm cân
Nghiên cứu được công bố năm 2009 cho thấy việc protein AP0A4 trong đương quy có thể điều chỉnh apatit, dẫn đến giảm mỡ trong cơ thể.
Cách dùng Đương quy: Loại sâm quý chữa bệnh phụ khoa
Đương quy được dùng chữa thiếu máu xanh xao, đau đầu, cơ thể gầy yếu, mệt mỏi, đau lưng, đau ngực bụng, viêm khớp, chân tay đau nhức lạnh, tê bại, tê liệt, đại tiện táo bón, mụn nhọt lở ngứa, tổn thương ứ huyết, kinh nguyệt không đều, bế kinh, đau bụng kinh. Liều dùng 4,5 – 9g có thể tới 10 – 20g dạng thuốc sắc hay rượu thuốc. Còn dùng trị cao huyết áp, ung thư và làm thuốc giảm đau, chống co giật, làm ra mồ hôi, kích thích ăn ngon cơm.
Dùng chữa bệnh kinh nguyệt không đều, thấy kinh đau bụng; trước khi thấy kinh 7 ngày thì uống. Ngày uống 6 - 15g dưới dạng thuốc sắc (chia làm 2 lần uống trong ngày) hoặc dưới dạng rượu thuốc mỗi lần 10ml, ngày uống 3 lần. Uống luôn 7 - 14 ngày.
Tốt nghiệp loại giỏi trường Đại học Y Dược Huế. Từng tham gia nghiên cứu khoa học đề tài về Dược liệu. Nhiều năm kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực Dược phẩm. Hiện đang là giảng viên cho Dược sĩ tại Nhà thuốc Long Châu.
Nguồn dữ liệu: nhathuoclongchau