Lá tía tô
Lá tía tô không chỉ là một loại rau gia vị thơm ngon phổ biến trong bữa ăn của người Việt Nam mà còn là một vị thuốc y học cổ truyền với nhiều công dụng tích cực đối với sức khỏe. Lá tía tô ứng dụng rất nhiều trong những bài thuốc dân gian, được xem là cẩm nang bỏ túi của nhiều gia đình. Hãy cùng tìm hiểu một số thông tin cơ bản về vị thuốc này qua bài viết dưới đây.
Thành phần Lá tía tô: Vị thuốc quen thuộc với nhiều công dụng bất ngờ
| Hoạt chất | Hàm lượng / Nồng độ |
|---|
Công dụng Lá tía tô: Vị thuốc quen thuộc với nhiều công dụng bất ngờ
Theo y học cổ truyền
Tính vị, quy kinh
Tính vị: Vị tân (cay), tính ôn.
Quy kinh: Phế, Tỳ.
Công năng, chủ trị
Công năng: Giải biểu tán hàn, lý khí khoan hung, an thai, lý khí hòa vị.
Chủ trị: Cảm phong hàn, háo suyễn, buồn nôn, nôn khan, đau bụng do ăn cua cá.

Nước lá tía tô
Theo y học hiện đại
Hoạt động chống oxy hóa
Người ta đã báo cáo rằng chiết xuất từ hạt và lá tía tô thể hiện hoạt tính chống oxy hóa phụ thuộc vào nồng độ, dựa trên xét nghiệm gốc tự do 2,2-diphenyl-1-picrylhydrazyl-hydrate (DPPH) và 2,2′-azino-bis (ABTS). Rosmarinic acid (RA) và luteolin phân lập từ quả P. frutescens cho thấy khả năng thu dọn DPPH đáng kể với giá trị nồng độ ức chế tối đa một nửa (IC50) lần lượt là 8,61 và 7,50 µM.
Trong số 5 hợp chất phenolic, RA và rosmarinic acid-3-O-glucoside là những chất chống oxy hóa phenolic chiếm ưu thế với hoạt tính mạnh từ tía tô ép lạnh. In vivo, hoạt tính bảo vệ của RA từ lá P. frutescens đã được chứng minh trên tổn thương gan do Lipopolysaccharide (LPS) gây ra ở chuột nhạy cảm với d-GalN do hoạt động nhặt hoặc giảm của superoxide hoặc peroxynitrite thay vì ức chế sản xuất yếu tố hoại tử khối u (TNF)-α.
Có vẻ như hoạt tính chống oxy hóa của tía tô có thể khác nhau giữa các loại gia vị khác nhau. Là một phần của nghiên cứu in vitro trên người, lá tía tô màu tím cho thấy hoạt tính chống oxy hóa cao hơn và ngăn chặn quá trình oxy hóa lipoprotein mật độ thấp (LDL-c) so với lá xanh. Một nghiên cứu năm 2012 tiết lộ rằng 2′,3′-dihydroxy-4′,6′-dimethoxychalcone được tìm thấy trong lá tía tô xanh đã tăng cường sức đề kháng của tế bào đối với tổn thương oxy hóa thông qua kích hoạt con đường phản ứng chống oxy hóa Nrf2.
Hoạt động kháng khuẩn và kháng nấm
Hoạt tính kháng khuẩn của tinh dầu từ lá tía tô đối với vi khuẩn gram dương và gram âm đã được nghiên cứu và kết quả cho thấy hiệu quả của loại tinh dầu này trong việc ức chế sự phát triển của vi khuẩn được thử nghiệm. Nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) đối với Staphylococcus aureus và Escherichia coli là 500 μg/mL và 1250 μg/mL tương ứng. Hợp chất perillaldehyde này cũng đặc biệt có tác dụng chống nấm sợi, với giá trị MIC đối với M. mucedo và P. chrysogenum đã ở nồng độ 62,5 pg/mL.
Hoạt động chống dị ứng
Các nghiên cứu cho thấy chiết xuất nước của P. frutescens có thể ức chế phản ứng dị ứng in vivo và in vitro. Chiết xuất P. frutescens (0,05 đến 1 g/kg) ức chế đáng kể các phản ứng dị ứng toàn thân được kích hoạt bởi IgE kháng DNP ở chuột theo cách phụ thuộc vào liều lượng.
Trong một thí nghiệm năm 2003, chiết xuất nước từ lá tía tô đã ngăn chặn đáng kể phản ứng PCA, sử dụng mô hình phản ứng sốc phản vệ qua da thụ động qua tai (PCA) trên chuột và các tác giả đã kết luận vai trò của rosmarinic acid.
Nghiên cứu năm 1999 cho thấy chiết xuất trong nước nóng của lá tía tô có khả năng ức chế vừa phải sự thoái hóa tế bào mast và các hoạt động của hyaluronidase (IC50 = 0,42 mg/mL) theo cách phụ thuộc vào liều lượng. Trong nghiên cứu khác vào năm 2004, chiết xuất tía tô giàu rosmarinic acid có thể ức chế một phần tình trạng viêm mũi dị ứng theo mùa ở người thông qua việc ức chế sự xâm nhập của bạch cầu đa nhân (PMNL) trong niêm mạc mũi.

Lá tía tô có hoạt tính chống dị ứng
Hoạt động chống trầm cảm
Các thành phần dạng phenolic của lá tía tô, chẳng hạn như apigenin, ở liều chích trong màng bụng chuột lần lượt là 12,5 và 25 mg/kg, rosmarinic acid (2 mg/kg) và caffeic acid (4 mg/kg) có tác dụng ức chế sự bất thường về cảm xúc do căng thẳng tạo ra, có thể được điều hòa bởi cơ chế dopaminergic trong não chuột.
Tinh dầu và perillaldehyde từ lá tía tô cũng được phát hiện có đặc tính chống trầm cảm ở chuột bị trầm cảm do CUMS gây ra. Trong một nghiên cứu khác, việc tiêu thụ perillaldehyde hàng ngày (20 mg/kg, uống) đã chứng minh tác dụng giống thuốc chống trầm cảm đáng kể ở chuột bị trầm cảm do LPS và các tác giả đã kết luận rằng có lợi ích tiềm tàng trong chứng trầm cảm liên quan đến viêm.
Hoạt động chống viêm
Luteolin đã được phân lập từ chiết xuất ethanol lá tía tô và được chứng minh là có tác dụng có lợi đối với các bệnh viêm thần kinh theo cách phụ thuộc vào liều (IC50 = 6,9 μM) thông qua việc ngăn chặn sự biểu hiện của enzyme tổng hợp oxit cảm ứng (iNOS) trong vi mô BV-2 tế bào.
Chiết xuất ethanol của lá tía tô đã được xác định là có hoạt tính chống viêm đáng kể trong các đại thực bào chuột Raw 264.7 do LPS gây ra thông qua việc ức chế sự biểu hiện của các cytokine gây viêm, ức chế hoạt hóa protein kinase được hoạt hóa bằng mitogen (MAPK) và yếu tố hạt nhân kappa (NF-κB) để đáp ứng với LPS.
Lipophilic triterpene acids từ chiết xuất ethanol của lá tía tô tím và xanh đã được chứng minh là có hoạt tính chống viêm đáng chú ý đối với tình trạng viêm do 12-O-tetradecanoylphorbol-13-acetate (TPA) gây ra ở chuột (ID50 : 0,09 - 0,3 mg mỗi bên tai), và về hoạt hóa kháng nguyên sớm của virus Epstein-Barr (EBV-EA) (ức chế 91 - 93% ở tỷ lệ 1 × 103 mol/TPA).
Hoạt động chống khối u
Một số nghiên cứu in vivo và in vitro đã báo cáo hoạt động chống ung thư tiềm tàng của tía tô. Tormentic acid, một lipophilic triterpene acid từ chiết xuất ethanol của lá tía tô màu đỏ và màu xanh, đã ngăn chặn đáng kể quá trình gây ung thư trong mô hình da chuột hai giai đoạn in vivo. Tương tự, trong mô hình gây ung thư in vivo, việc sử dụng tại chỗ phần có nguồn gốc từ tía tô (2,0 mg/chuột) đã làm giảm đáng kể khả năng tạo khối u do 7,12-dimethylbenz(a)anthracene (DMBA) khởi xướng và thúc đẩy khối u TPA. Điều này có lẽ dựa trên hai tác dụng độc lập: Ức chế tổn thương DNA oxy hóa và ức chế phân tử bám dính, chemokine và tổng hợp eicosanoid.
Lin và cộng sự (2007) đã đánh giá tác dụng ức chế của lá tía tô và họ phát hiện ra rằng nó gây ra các gen liên quan đến apoptosis một cách hiệu quả và có thể ức chế sự tăng sinh tế bào trong tế bào HepG2 của ung thư gan ở người. Họ cũng quan sát thấy tác dụng ức chế của lá tía tô cao hơn nhiều so với cùng liều lượng hợp chất rosmarinic acid và luteolin có bán trên thị trường.
Cách dùng Lá tía tô: Vị thuốc quen thuộc với nhiều công dụng bất ngờ
Ngày dùng từ 5 g đến 9 g dược liệu khô, dạng thuốc sắc, thường phối hợp với các vị thuốc khác. Nếu dùng tươi, sử dụng lượng thích hợp.
Dược sĩ chuyên ngành Dược lâm sàng, với nhiều năm kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực dược phẩm. Là Dược sĩ Long Châu đạt được chứng chỉ bệnh học cấp quốc tế. Hiện đang là giảng viên tại Trung tâm Đào tạo FPT Long Châu.
Nguồn dữ liệu: nhathuoclongchau