Mạch môn (Rễ)
Rễ Mạch môn là một vị thuốc được sử dụng phổ biến trong các bài thuốc điều trị ho của Y học cổ truyền. Ngoài ra, vị thuốc này cũng được dùng trong hỗ trợ điều trị một số bệnh lý tim mạch như trong bài thuốc Sinh mạch tán.
Thành phần Rễ Mạch môn: Vị thuốc trị ho được sử dụng phổ biến
| Hoạt chất | Hàm lượng / Nồng độ |
|---|
Công dụng Rễ Mạch môn: Vị thuốc trị ho được sử dụng phổ biến
Theo y học cổ truyền
Theo Y học cổ truyền, rễ Mạch môn có vị ngọt, hơi đắng, tính mát, có tác dụng nhuận Phế, giảm ho, cầm máu, làm mát tim, thanh nhiệt. Rễ Mạch môn được dùng trong chữa ho khan, viêm họng, lao phổi sốt âm ỉ về chiều, sốt cao, tâm phiền khát nước, thổ huyết, khái huyết, chảy máu mũi, hen phế quản, mất ngủ.
Ngoài ra, cây còn dùng để lợi tiểu và chữa phụ nữ sau sinh ít sữa, điều hòa nhịp tim, chữa hồi hộp, trị táo bón, lở ngứa. Trong Y học Trung Quốc, rễ củ Mạch môn thường được dùng trị các bệnh tim mạch, tăng huyết áp, xơ vữa động mạch, rối loạn thần kinh mạch máu, rối loạn thần kinh thực vật, khí hư và mất ngủ. Vị thuốc phối hợp với các vị thuốc khác có tác dụng trị viêm dây thần kinh.

Vị thuốc Mạch môn
Theo y học hiện đại
Tác dụng chống huyết khối
Bệnh thuyên tắc huyết khối có thể được điều trị hiệu quả bằng liệu pháp bảo vệ nội mô hoặc bằng cách ngăn chặn sự bám dính của bạch cầu với tế bào nội mô. Dịch chiết 70% ethanol của rễ Mạch môn với thành phần chính là các saponin, có tác dụng ức chế huyết khối tĩnh mạch bằng cách bảo vệ dòng tế bào nội mô tĩnh mạch rốn ở người (dòng tế bào ECV304) và bằng cách ức chế sự bám dính của dòng tế bào bạch cầu cấp bệnh học tiền tủy bào người HL-60 với dòng tế bào ECV304. Ngoài ra, dịch chiết rễ Mạch môn còn ức chế sự hình thành huyết khối ở chuột được tiêm carrageenan và giảm huyết khối gây ra bởi các shunt động tĩnh mạch ở chuột.
Tác dụng kháng viêm
Phản ứng viêm xảy ra là kết quả từ sự tương tác giữa hệ miễn dịch của cơ thể với các tác nhân xâm nhập từ môi trường. Sinh bệnh học phản ứng viêm có liên quan mật thiết đến các hóa chất trung gian gây viêm. Dịch chiết toàn phần rễ Mạch môn thể hiện khả năng kháng viêm đáng kể thông qua giảm đáp ứng sưng tai, phù chân, giảm sự di chuyển bạch cầu toàn phần và bạch cầu trung tính vào phúc mạc, cũng như làm giảm sự kết dính của các tế bào HL-60 với các tế bào ECV304 trên các mô hình chuột nhắt và chuột cống gây viêm.
Tác dụng chống oxy hóa
Ophiopogonin D đóng vai trò bảo vệ chống lại tổn thương tế bào nội mô do H2O2 gây ra. Ngoài ra, ophiopogonin D ức chế trực tiếp việc tạo ra các gốc oxy phản ứng (ROS) trong ty thể do H2O2, ức chế phản ứng viêm và giảm dẫn truyền tín hiệu oxy hóa khử. Ophiopogonin D cũng cho thấy tác dụng chống loãng xương bằng cách giảm stress oxy hóa. Nó cũng làm giảm việc tạo ra ROS trong các tiền cốt bào chuột (MC3T3-E1 phân nhóm 4) và các đại thực bào RAW264.7 thông qua con đường tín hiệu FoxO3a-β-catenin.
Hơn nữa, ophiopogonin D làm giảm các chỉ số đặc hiệu của hủy cốt bào. Nolinospiroside F cũng có tác dụng chống lão hóa. Hợp chất này kéo dài đáng kể tuổi thọ của dòng nấm men K6001 và tăng khả năng sống sót của nấm men, đặc tính này có thể là do tác dụng chống oxy hóa của nó.
Tác dụng bảo vệ tim mạch
Bệnh tim mạch là một vấn đề sức khỏe nghiêm trọng và có xu hướng ngày càng gia tăng trên thế giới, chiếm tỉ lệ lớn trong tổng số ca tử vong và dẫn đến tỷ lệ tàn tật đáng kể. Đây cũng là mối quan tâm đặc biệt và cấp bách đối với các nước đang phát triển do sự thay đổi trong lối sống dẫn đến các yếu tố nguy cơ mới đối với bệnh lý tim mạch, và hậu quả là sự bùng nổ về nguy cơ mắc bệnh tim mạch trên toàn thế giới, nhất là ở các quốc gia đang phát triển.
Các saponin trong rễ Mạch môn có khả năng ức chế rối loạn nhịp tâm thất trên chó. Các saponin này cũng làm giảm dòng Ca2+ bên trong tế bào cơ tim và hạn chế các tổn thương tái tưới máu liên quan đến tình trạng quá tải Ca2+ trong hệ tim mạch. Saponin từ dịch chiết rễ Mạch môn cũng cải thiện sự hình thành vi ống trong các tế bào nội mô cơ tim ở người. Ngoài ra, một furostanol glycoside trong rễ Mạch môn là ophiopogonin J có tác dụng ức chế enzym tổng hợp acid béo, cho thấy tiềm năng của nó trong cải thiện tình trạng rối loạn lipid máu.

Các nghiên cứu cho thấy dịch chiết rễ Mạch môn có tác dụng bảo vệ tim mạch
Tác dụng điều hòa miễn dịch
Các saponin từ rễ Mạch môn thể hiện khả năng điều hòa các hoạt động đại thực bào bằng cách thúc đẩy khả năng thực bào, tăng tỷ lệ sống sót của đại thực bào, cải thiện tình trạng tiết NO và sản xuất IL-1β phụ thuộc vào liều lượng. Nghiên cứu gần đây cho thấy các saponin điều trị hiệu quả tổn thương gan do quá mẫn muộn với picryl clorua (PCl) ở chuột. Các saponin cũng cải thiện tổn thương gan do miễn dịch chủ yếu bằng cách làm cho các tế bào miễn dịch xâm nhập vào gan bị rối loạn chức năng phụ thuộc vào thời gian tiếp xúc. Saponin làm giảm đáng kể nồng độ alanine transaminase (ALT) và aspartate transaminase (AST) trong huyết thanh trong giai đoạn quá mẫn muộn ở mô hình chuột gây quá mẫn muộn bởi PCI.
Các polysaccharid từ rễ Mạch môn cho thấy tác dụng có lợi đối với sinh lý bệnh hội chứng Sjogren thông qua các cơ chế tăng lượng nước bọt, tăng trọng lượng cơ thể, cũng như giảm lượng nước nạp vào, chỉ số tuyến dưới hàm (SMG), chỉ số lách, nồng độ interferon-γ (IFN-γ) và tỷ lệ IFN -γ/IL-4 trên chuột gây bệnh bằng đột biến gen. Các polysaccharid cũng kích hoạt đại thực bào và điều hòa miễn dịch thông qua thúc đẩy quá trình thực bào và tăng tốc độ chuyển hóa năng lượng.

Rễ Mạch môn có tác dụng điều hòa miễn dịch
Cách dùng Rễ Mạch môn: Vị thuốc trị ho được sử dụng phổ biến
Liều dùng thông thường hàng ngày là 6 – 20 g dạng thuốc sắc hoặc liều 3 – 10 g dạng tán bột làm thành viên hoàn.
Tốt nghiệp đại học Khoa Dược. Có kinh nghiệm hơn 10 năm trong lĩnh vực Dược phẩm, tư vấn thuốc và thực phẩm chức năng. Hiện đang là giảng viên cho Dược sĩ tại Nhà thuốc Long Châu.
Nguồn dữ liệu: nhathuoclongchau