Thuốc Tenofovir MCN 300mg Medcen điều trị nhiễm HIV-1 ở người lớn (6 vỉ x 10 viên)

Số đăng ký / SKU00053136
Nhà sản xuấtCông ty Cổ phần Medcen
Dạng bào chếViên nén bao phim
Quy cáchHộp 6 Vỉ x 10 Viên

Thuốc Tenofovir MCN 300 được chỉ định trong điều trị nhiễm HIV-1 và viêm gan B mạn tính cho người lớn và thanh thiếu niên.

Hình ảnh Thuốc Tenofovir MCN 300mg Medcen điều trị nhiễm HIV-1 ở người lớn (6 vỉ x 10 viên)
Hình ảnh Thuốc Tenofovir MCN 300mg Medcen điều trị nhiễm HIV-1 ở người lớn (6 vỉ x 10 viên)Hình ảnh Thuốc Tenofovir MCN 300mg Medcen điều trị nhiễm HIV-1 ở người lớn (6 vỉ x 10 viên)Hình ảnh Thuốc Tenofovir MCN 300mg Medcen điều trị nhiễm HIV-1 ở người lớn (6 vỉ x 10 viên)

Thành phần Thuốc Tenofovir MCN 300mg

Hoạt chấtHàm lượng / Nồng độ
Tenofovir disoproxil fumarat300mg

Công dụng Thuốc Tenofovir MCN 300mg

Chỉ định

Nhiễm HIV-1

Tenofovir disoproxil được chỉ định kết hợp với các sản phẩm thuốc kháng virus khác để điều trị cho người lớn nhiễm HIV-1.

Ở người trưởng thành, việc chứng minh lợi ích của tenofovir disoproxil trong nhiễm HIV-1 dựa trên kết quả của một nghiên cứu ở những bệnh nhân chưa từng điều trị, bao gồm những bệnh nhân có tải lượng virus cao (>100.000 bản sao/ml) và các nghiên cứu trong đó tenofovir disoproxil được sử dụng bổ sung vào liệu pháp nền ổn định (chủ yếu là liệu pháp ba thuốc) ở những bệnh nhân có tiền sử kháng virus được phát hiện sớm (< 10.000 bản sao/ml, với phần lớn bệnh nhân có < 5.000 bản sao/ml).

Tenofovir disoproxil cũng được chỉ định để điều trị cho thanh thiếu niên từ 12 đến dưới 18 tuổi nhiễm HIV-1 kháng NRTI hoặc do độc tính khiến không thể sử dụng thuốc đầu tay.

Việc lựa chọn tenofovir disoproxil để điều trị cho bệnh nhân nhiễm HIV-1 đã từng dùng thuốc kháng virus nên dựa trên xét nghiệm kháng virus và/hoặc tiền sử điều trị của từng bệnh nhân.

Nhiễm viêm gan B

Tenofovir disoproxil được chỉ định để điều trị viêm gan B mãn tính ở người lớn mắc:

  • Bệnh xơ gan còn bù, với bằng chứng về sự nhân lên của virus, nồng độ alanin aminotransferase (ALT) trong huyết thanh tăng cao liên tục và bằng chứng mô học về tình trạng viêm đang hoạt động và/hoặc xơ hóa.
  • Bằng chứng về virus viêm gan B kháng lamivudin.
  • Bệnh xơ gan mất bù.
  • Tenofovir disoproxil được chỉ định để điều trị viêm gan B mãn tính ở thanh thiếu niên từ 12 đến dưới 18 tuổi với:
  • Bệnh xơ gan còn bù và có bằng chứng về bệnh miễn dịch, tức là có sự nhân lên của virus đang hoạt động và nồng độ ALT huyết thanh tăng cao liên tục hoặc bằng chứng mô học về tình trạng viêm và/hoặc xơ hóa từ trung bình đến nặng.

Dược lực học

Nhóm dược lý: Thuốc kháng virus dùng toàn thân; chất ức chế men sao chép ngược nucleosid và nucleotid.

Mã ATC: J05AF07

Cơ chế tác dụng

Tenofovir disoproxil fumarat là muối fumarat của tiền chất tenofovir disoproxil. Tenofovir disoproxil được hấp thu và chuyển hóa thành hoạt chất tenofovir, một chất tương tự nucleosid monophosphat (nucleotid). Tenofovir sau đó được chuyển hóa thành chất chuyển hóa có hoạt tính tenofovir diphosphat, chất kết thúc chuỗi bắt buộc, nhờ các enzym tế bào được biểu hiện cấu thành. Tenofovir diphosphat có thời gian bán hủy nội bào là 10 giờ ở trạng thái hoạt hóa và 50 giờ ở trạng thái nghỉ trong tế bào đơn nhân máu ngoại vi (PBMC). Tenofovir diphosphat ức chế men sao chép ngược HIV-1 và HBV polymerase bằng cách cạnh tranh liên kết trực tiếp với chất nền deoxyribonucleotid tự nhiên và sau khi kết hợp vào DNA, bằng cách chấm dứt chuỗi DNA. Tenofovir diphosphat là chất ức chế yếu các polymerase tế bào α, β và γ. Ở nồng độ lên tới 300 µmol/l, tenofovir cũng cho thấy không có tác dụng lên quá trình tổng hợp DNA ty thể hoặc sản xuất acid lactic trong các thử nghiệm in vitro.

Dược động học

Tenofovir disoproxil là một tiền chất ester hòa tan trong nước, được chuyển hóa nhanh chóng trong cơ thể thành tenofovir và formaldehyd.

Tenofovir được chuyển đổi nội bào thành tenofovir monophosphat và thành phần hoạt chất, tenofovir diphosphat.

Hấp thu

Sau khi bệnh nhân nhiễm HIV uống tenofovir disoproxil, tenofovir disoproxil được hấp thu nhanh chóng và chuyển thành tenofovir. Dùng nhiều liều tenofovir disoproxil trong bữa ăn cho bệnh nhân nhiễm HIV dẫn đến giá trị trung bình (%CV) tenofovir Cmax, AUC và Cmin là 326 (36,6%) ng/ml, 3.324 (41,2%) ng.h/ml và tương ứng là 64,4 (39,4%) ng/ml. Nồng độ tenofovir tối đa được quan sát thấy trong huyết thanh trong vòng một giờ sau khi dùng thuốc lúc đói và trong vòng hai giờ khi dùng cùng với thức ăn. Sinh khả dụng đường uống của tenofovir từ tenofovir disoproxil ở bệnh nhân nhịn ăn là khoảng 25%. Dùng tenofovir disoproxil cùng với bữa ăn nhiều chất béo đã làm tăng sinh khả dụng đường uống, làm tăng AUC của tenofovir khoảng 40% và Cmax khoảng 14%. Sau liều tenofovir disoproxil đầu tiên ở bệnh nhân đã ăn, Cmax trung bình trong huyết thanh dao động từ 213 đến 375 ng/ml. Tuy nhiên, dùng tenofovir disoproxil với bữa ăn nhẹ không có ảnh hưởng đáng kể đến dược động học của tenofovir.

Phân bố

Sau khi tiêm tĩnh mạch, thể tích phân bố ở trạng thái ổn định của tenofovir được ước tính là khoảng 800 ml/kg. Sau khi uống tenofovir disoproxil, tenofovir được phân bố tới hầu hết các mô với nồng độ cao nhất xảy ra ở thận, gan và ruột (nghiên cứu tiền lâm sàng). Sự gắn kết protein in vitro của tenofovir với protein huyết tương hoặc huyết thanh lần lượt ít hơn 0,7 và 7,2% trong khoảng nồng độ tenofovir từ 0,01 đến 25 µg/ml.

Chuyển hóa

Các nghiên cứu in vitro đã xác định rằng cả tenofovir disoproxil và tenofovir đều không phải là cơ chất của enzym CYP450. Hơn nữa, ở nồng độ cao hơn đáng kể (khoảng 300 lần) so với nồng độ quan sát được trên cơ thể, tenofovir không ức chế chuyển hóa thuốc in vitro qua trung gian bởi bất kỳ dạng đồng phân CYP450 chính nào ở người liên quan đến chuyển hóa sinh học thuốc (CYP3A4, CYP2D6, CYP2C9, CYP2E1 hoặc CYP1A1/2). Tenofovir disoproxil ở nồng độ 100 µmol/l không có tác dụng lên bất kỳ dạng đồng phân CYP450 nào, ngoại trừ CYP1A1/2, trong đó quan sát thấy có sự giảm chuyển hóa nhỏ (6%) nhưng có ý nghĩa thống kê về chuyển hóa cơ chất của CYP1A1/2. Dựa trên những dữ liệu này, khó có khả năng xảy ra các tương tác có ý nghĩa lâm sàng liên quan đến tenofovir disoproxil và các thuốc được chuyển hóa bởi CYP450.

Thải trừ

Tenofovir được bài tiết chủ yếu qua thận bằng cả quá trình lọc và hệ thống vận chuyển chủ động qua ống thận với khoảng 70-80% liều dùng được bài tiết dưới dạng không đổi qua nước tiểu sau khi tiêm tĩnh mạch. Độ thanh thải tổng cộng được ước tính là khoảng 230 ml/giờ/kg (khoảng 300 ml/phút). Độ thanh thải ở thận được ước tính là khoảng 160 ml/giờ/kg (khoảng 210 ml/phút), cao hơn tốc độ lọc cầu thận. Điều này cho thấy sự bài tiết tích cực ở ống thận là một phần quan trọng trong quá trình thải trừ tenofovir. Sau khi uống, thời gian bán hủy cuối cùng của tenofovir là khoảng 12 đến 18 giờ.

Cách dùng Thuốc Tenofovir MCN 300mg

Cách dùng

Thuốc Tenofovir MCN 300 nên được uống một lần mỗi ngày, uống cùng với thức ăn.

Trong những trường hợp đặc biệt, có thể dùng thuốc sau khi hòa tan viên thuốc trong ít nhất 100 ml nước, nước cam hoặc nước nho.

Liều dùng

Việc điều trị nên được bắt đầu bởi bác sĩ có kinh nghiệm trong việc kiểm soát nhiễm HIV và/hoặc điều trị viêm gan B mãn tính.

HIV-1 và viêm gan B mãn tính

Người trưởng thành và thanh thiếu niên từ 12 đến < 18 tuổi và nặng ≥ 35 kg:

Liều khuyến cáo của tenofovir disoproxil để điều trị HIV hoặc điều trị viêm gan B mãn tính là 245 mg (một viên) x 1 lần/ngày, uống cùng với thức ăn.

Để điều trị nhiễm HIV-1 và viêm gan B mãn tính ở người lớn hoặc thanh thiếu niên, những người không phù hợp để sử dụng dạng bào chế rắn, có thể kiểm tra tính khả dụng của các công thức thích hợp khác.

Quyết định điều trị cho trẻ em (thanh thiếu niên) phải dựa trên việc xem xét cẩn thận nhu cầu của từng bệnh nhân và tham chiếu đến các hướng dẫn điều trị nhi khoa hiện hành bao gồm các thông tin mô học cơ bản. Lợi ích của việc ức chế virus lâu dài bằng việc tiếp tục liệu pháp phải được cân nhắc với nguy cơ điều trị kéo dài, bao gồm sự xuất hiện của virus viêm gan B kháng thuốc và sự không chắc chắn về tác động lâu dài của nhiễm độc xương và thận.

ALT huyết thanh nên được nâng liên tục trong ít nhất 6 tháng trước khi điều trị cho bệnh nhi mắc bệnh xơ gan còn bù do viêm gan B mạn tính HBeAg dương tính; và trong ít nhất 12 tháng ở bệnh nhân có HBeAg âm tính.

Thời gian điều trị ở bệnh nhân người lớn và thanh thiếu niên bị viêm gan B mạn tính

Thời gian điều trị tối ưu chưa được biết. Việc ngừng điều trị có thể được xem xét như sau:

Ở những bệnh nhân HBeAg dương tính không bị xơ gan, nên điều trị ít nhất 12 tháng sau khi chuyển đổi huyết thanh HBe (HbeAg âm tính và DNA HBV âm tính với việc phát hiện anti-HBe trên hai mẫu huyết thanh liên tiếp cách nhau ít nhất 3 – 6 tháng) hoặc cho đến khi HBs chuyển đổi huyết thanh hoặc mất hiệu lực. Nồng độ ALT và HBV DNA trong huyết thanh nên được theo dõi thường xuyên sau khi ngừng điều trị để phát hiện bất kỳ tái phát virus muộn nào.

Ở những bệnh nhân HBeAg âm tính không bị xơ gan, nên điều trị ít nhất cho đến khi chuyển đổi huyết thanh HBs hoặc có bằng chứng về việc mất hiệu lực. Việc ngừng điều trị cũng có thể được xem xét sau khi đạt được sự ức chế virus ổn định (tức là trong ít nhất 3 năm) với điều kiện nồng độ ALT và HBV DNA trong huyết thanh được theo dõi thường xuyên sau khi ngừng điều trị để phát hiện bất kỳ tái phát virus muộn nào. Với việc điều trị kéo dài hơn 2 năm, nên đánh giá lại thường xuyên để xác nhận rằng việc liệu pháp được lựa chọn vẫn phù hợp với bệnh nhân.

Ở những bệnh nhân trưởng thành mắc bệnh gan mất bù hoặc xơ gan, không nên ngừng điều trị.

Trẻ em

Sự an toàn và hiệu quả của tenofovir disoproxil ở trẻ em nhiễm HIV-1 hoặc trẻ em bị viêm gan B mãn tính dưới 2 tuổi chưa được thiết lập. Không có dữ liệu có sẵn.

Đối tượng đặc biệt

Người cao tuổi

Không có dữ liệu để đưa ra khuyến cáo về liều cho bệnh nhân trên 65 tuổi.

Suy thận

Tenofovir được thải trừ qua thận và nồng độ tenofovir tăng lên ở bệnh nhân rối loạn chức năng thận.

Người trưởng thành

Có rất ít dữ liệu về độ an toàn và hiệu quả của tenofovir disoproxil ở bệnh nhân trưởng thành bị suy thận vừa và nặng (độ thanh thải creatinin < 50 ml/phút) và dữ liệu an toàn lâu dài chưa được đánh giá đối với bệnh nhân suy thận nhẹ (độ thanh thải creatinin 50 - 80 ml/phút). Do đó, chỉ nên sử dụng tenofovir disoproxil ở bệnh nhân trưởng thành bị suy thận nếu lợi ích điều trị vượt trội so với nguy cơ tiềm ẩn.

Suy thận nhẹ (độ thanh thải creatinin 50 - 80 ml/phút)

Dữ liệu hạn chế từ các nghiên cứu lâm sàng ủng hộ việc dùng liều 245 mg tenofovir disoproxil một lần mỗi ngày ở bệnh nhân suy thận nhẹ.

Suy thận vừa (độ thanh thải creatinin 30-49 ml/phút)

Có thể sử dụng liều 245 mg và kéo dài khoảng cách giữa các liều, cụ thể là 1 viên mỗi 48 giờ và cần theo dõi chặt chẽ đáp ứng lâm sàng với điều trị và chức năng thận ở những bệnh nhân này.

Bệnh nhân suy thận nặng (độ thanh thải creatinin < 30 ml/phút) và bệnh nhân chạy thận nhân tạo

Có thể sử dụng kéo dài khoảng cách giữa các liều khi sử dụng như sau:

  • Suy thận nặng: 1 viên mỗi 72 – 96 giờ (liều hai lần một tuần).
  • Bệnh nhân chạy thận nhân tạo: 1 viên mỗi 7 ngày một lần sau khi hoàn thành đợt chạy thận”.

Suy gan

Không cần điều chỉnh liều ở bệnh nhân suy gan. Nếu ngưng dùng tenofovir disoproxil ở bệnh nhân viêm gan B mạn tính có hoặc không đồng nhiễm HIV, những bệnh nhân này cần được theo dõi chặt chẽ để tìm bằng chứng về tình trạng trầm trọng thêm của bệnh viêm gan.

Xử trí quá liều

Triệu chứng

Nếu quá liều xảy ra, bệnh nhân phải được theo dõi dấu hiệu ngộ độc và áp dụng biện pháp điều trị hỗ trợ tiêu chuẩn nếu cần thiết.

Cách xử trí

Tenofovir có thể được loại bỏ bằng thẩm phân máu; độ thanh thải chạy thận nhân tạo trung bình của tenofovir là 134 ml/phút. Người ta không biết liệu tenofovir có thể được loại bỏ bằng thấm phân phúc mạc hay không.

Quên liều

Nếu bệnh nhân bỏ lỡ một liều tenofovir disoproxil trong vòng 12 giờ kể từ thời điểm thường dùng, bệnh nhân nên dùng tenofovir disoproxil cùng với thức ăn càng sớm càng tốt và tiếp tục lịch dùng thuốc bình thường. Nếu bệnh nhân quên uống một liều tenofovir disoproxil sau hơn 12 giờ và gần đến giờ dùng liều tiếp theo, bệnh nhân không nên dùng liều đã quên mà chỉ cần tiếp tục lịch dùng thuốc thông thường.

Nếu bệnh nhân nôn trong vòng 1 giờ sau khi dùng tenofovir disoproxil thì nên uống thêm một viên nữa. Nếu bệnh nhân nôn hơn 1 giờ sau khi dùng tenofovir disoproxil thì không cần dùng liều khác.

Mọi thông tin chỉ mang tính chất tham khảo. Việc sử dụng thuốc phải tuân theo hướng dẫn của bác sĩ chuyên môn.

Tác dụng phụ Thuốc Tenofovir MCN 300mg

Thường gặp (ADR > 1/100)

Hạ phosphat máu¹, chóng mặt, tiêu chảy, nôn mửa, buồn nôn, phát ban, suy nhược, đau đầu, đau bụng, chướng bụng, đầy hơi, tăng transaminase, Mệt mỏi.

Ít gặp (1/1000 < ADR < 1/100)

Hạ kali máu¹, viêm tụy, tiêu cơ vân¹, yếu cơ¹, tăng creatinin, bệnh ống thận gần (bao gồm hội chứng Fanconi).

Hiếm gặp (ADR < 1/1000)

Nhiễm acid lactic, gan nhiễm mỡ, viêm gan, phù mạch, nhuyễn xương (biểu hiện bằng đau xương và hiếm khi gây gãy xương) ¹,², bệnh cơ ¹, suy thận cấp, suy thận, hoại tử ống thận cấp, viêm thận (kể cả viêm thận kẽ cấp) ², đái tháo nhạt do thận.

Hướng dẫn xử trí ADR

Thông báo cho bác sĩ trong trường hợp có bất kỳ tác dụng không mong muốn nào liên quan tới việc dùng thuốc.

Báo cáo các phản ứng bất lợi nghi ngờ

Việc báo cáo các phản ứng bất lợi nghi ngờ sau khi sản phẩm được cấp phép là rất quan trọng. Nó cho phép theo dõi liên tục tỷ lệ lợi ích/nguy cơ của sản phẩm. Các chuyên gia y tế báo cáo mọi tác dụng phụ bị nghi ngờ về Trung tâm Thông tin thuốc và Theo dõi phản ứng có hại của thuốc.

Bảo quản Thuốc Tenofovir MCN 300mg

Nơi khô, không quá 30°C, tránh ánh sáng.

Lưu ý & Thận trọng Thuốc Tenofovir MCN 300mg

Chống chỉ định

Thuốc Tenofovir MCN 300 chống chỉ định trong các trường hợp sau:

  • Quá mẫn cảm với hoạt chất hoặc với bất kỳ tá dược nào của thuốc.

Thận trọng khi sử dụng

Tổng quan

Nên tiến hành xét nghiệm kháng thể HIV cho tất cả bệnh nhiễm HBV trước khi bắt đầu điều trị bằng tenofovir disoproxil.

Bệnh viêm gan B

Bệnh nhân phải được thông báo rằng tenofovir disoproxil chưa được chứng minh có tác dụng ngăn ngừa nguy cơ lây truyền HBV sang người khác qua quan hệ tình dục hoặc lây nhiễm qua máu. Các biện pháp phòng ngừa thích hợp phải tiếp tục được sử dụng.

Phối hợp với các sản phẩm thuốc khác

Không nên dùng đồng thời với các thuốc khác có chứa tenofovir disoproxil hoặc tenofovir alafenamid.

Không nên dùng đồng thời với adefovir dipivoxil.

Không nên dùng đồng thời tenofovir disoproxil và didanosin.

Liệu pháp ba thuốc với nucleosid/nucleotid

Đã có báo cáo về tỷ lệ thất bại cao về virus học và xuất hiện tình trạng kháng thuốc trong giai đoạn đầu ở bệnh nhân HIV khi tenofovir disoproxil được kết hợp với lamivudin và abacavir cũng như với lamivudin và didanosin theo chế độ điều trị một lần mỗi ngày.

Ảnh hưởng đến thận và xương ở người trưởng thành

Tác dụng trên thận

Tenofovir chủ yếu được đào thải qua thận. Suy thận, suy thận, tăng creatinin, giảm phosphat máu và bệnh ống lượn gần (bao gồm hội chứng Fanconi) đã được báo cáo khi sử dụng tenofovir disoproxil trong thử nghiệm lâm sàng.

Theo dõi chức năng thận

Khuyến cáo nên tính toán độ thanh thải creatinin ở tất cả các bệnh nhân trước khi bắt đầu điều trị bằng tenofovir disoproxil và chức năng thận (độ thanh thải creatinin và phosphat trong máu) cũng được theo dõi sau 2 đến 4 tuần điều trị, sau 3 tháng điều trị và sau đó 3 – 6 tháng một lần ở những bệnh nhân không có yếu tố nguy cơ thận. Ở những bệnh nhân có nguy cơ bị suy thận, cần phải theo dõi chức năng thận thường xuyên hơn.

Quản lý chức năng thận

Nếu phosphat huyết thanh < 1,5 mg/dl (0,48 mmol/l) hoặc độ thanh thải creatinin giảm xuống < 50 ml/phút ở bất kỳ bệnh nhân trưởng thành nào dùng tenofovir disoproxil, cần đánh giá lại chức năng thận trong vòng một tuần, bao gồm cả kiểm tra đường huyết, nồng độ kali trong máu và glucose trong nước tiểu. Cũng nên cân nhắc việc ngừng điều trị bằng tenofovir disoproxil ở bệnh nhân trưởng thành có độ thanh thải creatinin giảm xuống < 50 ml/phút hoặc giảm phosphat huyết thanh xuống < 1,0 mg/dl (0,32 mmol/l). Việc ngừng điều trị bằng tenofovir disoproxil cũng nên được xem xét trong trường hợp chức năng thận suy giảm tiến triển mà không xác định được nguyên nhân nào khác.

Dùng đồng thời và nguy cơ nhiễm độc thận

Nên tránh sử dụng tenofovir disoproxil khi sử dụng đồng thời hoặc trong thời gian gần với một sản phẩm thuốc gây độc cho thận (ví dụ: aminoglycosid, amphotericin B, foscarnet, ganciclovir, pentamidin, vancomycin, cidofovir hoặc interleukin-2). Nếu không thể tránh khỏi việc sử dụng đồng thời tenofovir disoproxil và các thuốc gây độc thận thì nên theo dõi chức năng thận hàng tuần.

Các trường hợp suy thận cấp sau khi bắt đầu dùng liều cao hoặc dùng nhiều thuốc chống viêm không steroid (NSAID) đã được báo cáo ở những bệnh nhân điều trị bằng tenofovir disoproxil và có các yếu tố nguy cơ rối loạn chức năng thận. Nếu tenofovir disoproxil được dùng đồng thời với NSAID, cần theo dõi chức năng thận đầy đủ.

Nguy cơ suy thận cao hơn đã được báo cáo ở những bệnh nhân dùng tenofovir disoproxil kết hợp với thuốc ức chế protease tăng cường ritonavir hoặc cobicistat. Cần theo dõi chặt chẽ chức năng thận ở những bệnh nhân này. Ở những bệnh nhân có yếu tố nguy cơ về thận, cần đánh giá cẩn thận việc sử dụng đồng thời tenofovir disoproxil với thuốc ức chế protease tăng cường.

Tenofovir disoproxil chưa được đánh giá lâm sàng ở bệnh nhân dùng các thuốc được bài tiết qua cùng một con đường thận, bao gồm các protein vận chuyển chất vận chuyển anion hữu cơ ở người (hOAT) 1 và 3 hoặc MRP 4 (ví dụ cidofovir, một sản phẩm thuốc gây độc thận đã biết). Những protein vận chuyển qua thận này có thể chịu trách nhiệm bài tiết ở ống thận và một phần bài tiết tenofovir và cidofovir qua thận. Do đó, dược động học của các thuốc này, được bài tiết qua cùng một con đường thận bao gồm các protein vận chuyển hOAT 1 và 3 hoặc MRP 4, có thể bị thay đổi nếu dùng đồng thời. Trừ khi thật sự cần thiết, không nên dùng đồng thời các thuốc được bài tiết qua cùng một đường thận, nếu việc sử dụng đó bắt buộc thì nên theo dõi chức năng thận hàng tuần.

Suy thận

Tính an toàn trên thận của tenofovir disoproxil chỉ được nghiên cứu ở mức độ rất hạn chế ở bệnh nhân trưởng thành bị suy thận (độ thanh thải creatinin < 80 ml/phút).

Bệnh nhân người lớn có độ thanh thải creatinin < 50 ml/phút, kể cả bệnh nhân chạy thận nhân tạo:

Có rất ít dữ liệu về độ an toàn và hiệu quả của tenofovir disoproxil ở bệnh nhân suy thận. Do đó, tenofovir disoproxil chỉ nên được sử dụng nếu lợi ích điều trị tiềm năng được coi là lớn hơn rủi ro tiềm ẩn. Ở những bệnh nhân suy thận nặng (độ thanh thải creatinin < 30 ml/phút) và ở những bệnh nhân cần chạy thận nhân tạo, không nên sử dụng tenofovir disoproxil. Nếu không có phương pháp điều trị thay thế nào, phải điều chỉnh khoảng cách dùng thuốc và theo dõi chặt chẽ chức năng thận.

Ảnh hưởng lên xương

Các bất thường về xương như nhuyễn xương có thể biểu hiện dưới dạng đau xương dai dẳng hoặc trầm trọng hơn và hiếm khi góp phần gây gãy xương, có thể liên quan đến bệnh lý ống lượn gần do tenofovir disoproxil gây ra.

Tenofovir disoproxil cũng có thể làm giảm mật độ khoáng xương (BMD). Đối với bệnh HIV, trong một nghiên cứu lâm sàng có đối chứng kéo dài 144 tuần (GS-99-903) so sánh tenofovir disoproxil với stavudin kết hợp với lamivudin và efavirenz ở bệnh nhân trưởng thành chưa từng dùng thuốc kháng retrovirus, đã quan sát thấy sự giảm nhẹ BMD ở hông và cột sống ở cả hai nhóm điều trị. Sự giảm BMD cột sống và những thay đổi về dấu ấn sinh học xương so với ban đầu lớn hơn đáng kể ở nhóm điều trị tenofovir disoproxil sau 144 tuần. Mức độ BMD ở hông giảm nhiều hơn đáng kể ở nhóm này cho đến tuần thứ 96. Tuy nhiên, không có sự gia tăng nguy cơ gãy xương hoặc bằng chứng về các bất thường về xương liên quan đến lâm sàng trong 144 tuần trong nghiên cứu này.

Trong các nghiên cứu khác (tiền cứu và cắt ngang), BMD giảm rõ rệt nhất thấy được ở những bệnh nhân điều trị bằng tenofovir disoproxil như một phần của phác đồ có chứa chất ức chế protease tăng cường. Nhìn chung, do những bất thường về xương liên quan đến tenofovir disoproxil và những hạn chế của dữ liệu dài hạn về tác động của Tenofovir disoproxil đối với sức khỏe của xương và nguy cơ gãy xương, nên xem xét các chế độ điều trị thay thế cho những bệnh nhân bị loãng xương có nguy cơ cao bị gãy xương.

Nếu nghi ngờ hoặc phát hiện các bất thường về xương thì cần được tư vấn thích hợp.

Ảnh hưởng đến thận và xương ở trẻ em

Có những điều không chắc chắn liên quan đến ảnh hưởng lâu dài của độc tính trên xương và thận. Hơn nữa, độc tính thuận nghịch trên thận không thể được xác định chính xác. Do đó, nên áp dụng cách tiếp cận đa ngành để cân nhắc đầy đủ tùy từng trường hợp về sự cân bằng lợi ích/nguy cơ của việc điều trị, quyết định cách theo dõi thích hợp trong quá trình điều trị (bao gồm cả quyết định ngừng điều trị) và xem xét nhu cầu bổ sung.

Tác dụng trên thận

Các phản ứng bất lợi trên thận liên quan đến bệnh lý ống lượn gần đã được báo cáo ở bệnh nhi nhiễm HIV-1 từ 2 đến < 12 tuổi trong nghiên cứu lâm sàng GS-US-104-0352.

Theo dõi chức năng thận

Cần đánh giá chức năng thận (độ thanh thải creatinin và phosphat huyết thanh) trước khi điều trị và theo dõi trong quá trình điều trị như ở người lớn (xem ở trên).

Quản lý chức năng thận

Nếu nồng độ phosphat huyết thanh < 3,0 mg/dl (0,96 mmol/l) ở bất kỳ bệnh nhi nào dùng tenofovir disoproxil, cần đánh giá lại chức năng thận trong vòng một tuần, bao gồm đo đường huyết, kali máu và nồng độ glucose trong nước tiểu. Nếu nghi ngờ hoặc phát hiện các bất thường về thận thì nên tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa thận để xem xét việc ngừng điều trị tenofovir disoproxil.

Việc ngừng điều trị bằng tenofovir disoproxil cũng nên được xem xét trong trường hợp chức năng thận suy giảm tiến triển mà không xác định được nguyên nhân nào khác.

Dùng đồng thời và nguy cơ nhiễm độc thận

Các khuyến cáo tương tự cũng được áp dụng như ở người lớn (xem ở trên).

Suy thận

Không nên sử dụng tenofovir disoproxil ở bệnh nhi bị suy thận. Tenofovir disoproxil không nên được bắt đầu sử dụng ở bệnh nhi bị suy thận và nên ngừng sử dụng ở bệnh nhi bị suy thận trong quá trình điều trị bằng tenofovir disoproxil.

Ảnh hưởng lên xương

Tenofovir disoproxil có thể làm giảm BMD. Tác động của thay đổi BMD liên quan đến tenofovir disoproxil đối với sức khỏe xương lâu dài và nguy cơ gãy xương trong tương lai là không chắc chắn.

Nếu phát hiện hoặc nghi ngờ có bất thường về xương ở bệnh nhi, cần tham khảo ý kiến của bác sĩ nội tiết và/hoặc bác sĩ thận.

Bệnh gan

Dữ liệu về an toàn và hiệu quả rất hạn chế ở bệnh nhân ghép gan.

Có dữ liệu hạn chế về tính an toàn và hiệu quả của tenofovir disoproxil ở bệnh nhiễm HBV mắc bệnh gan mất bù và có điểm Child-Pugh-Turcotte (CPT) > 9. Những bệnh nhân này có thể có nguy cơ cao gặp phải các phản ứng phụ nghiêm trọng ở gan hoặc thận. Do đó, các thông số về gan và thận cần được theo dõi chặt chẽ ở nhóm bệnh nhân này.

Đợt cấp của bệnh viêm gan

Các đợt bùng phát trong điều trị: Các đợt trầm trọng tự phát ở bệnh viêm gan B mạn tính là tương đối thường gặp và được đặc trưng bởi sự gia tăng thoáng qua ALT huyết thanh. Sau khi bắt đầu điều trị bằng thuốc kháng virus, ALT huyết thanh có thể tăng ở một số bệnh nhân. Ở bệnh nhân mắc bệnh gan còn bù, sự gia tăng ALT huyết thanh này thường không đi kèm với sự gia tăng nồng độ bilirubin huyết thanh hoặc tình trạng gan mất bù. Bệnh nhân xơ gan có thể có nguy cơ mất bù gan cao hơn sau đợt viêm gan trầm trọng hơn, và do đó cần được theo dõi chặt chẽ trong quá trình điều trị.

Bùng phát sau khi ngừng điều trị: Tình trạng viêm gan trầm trọng cấp tính cũng đã được báo cáo ở những bệnh nhân đã ngừng điều trị viêm gan B. Các đợt trầm trọng sau điều trị thường liên quan đến việc tăng HBV DNA và phần lớn dường như tự hạn chế. Tuy nhiên, các đợt chuyển nặng nghiêm trọng, bao gồm cả tử vong, đã được báo cáo. Chức năng gan nên được theo dõi định kỳ bằng cả theo dõi lâm sàng và xét nghiệm trong ít nhất 6 tháng sau khi ngừng điều trị viêm gan B. Nếu thích hợp, có thể tiếp tục điều trị viêm gan B. Ở những bệnh nhân mắc bệnh gan tiến triển hoặc xơ gan, không nên ngừng điều trị vì tình trạng viêm gan trầm trọng sau điều trị có thể dẫn đến mất bù gan.

Các cơn bùng phát ở gan đặc biệt nghiêm trọng và đôi khi gây tử vong ở những bệnh nhân mắc bệnh xơ gan mất bù.

Đồng nhiễm viêm gan C hoặc D: Không có dữ liệu về hiệu quả của tenofovir ở những bệnh nhân đồng nhiễm virus viêm gan C hoặc D.

Đồng nhiễm HIV-1 và viêm gan B: Do nguy cơ phát triển tình trạng kháng HIV, tenofovir disoproxil chỉ nên được sử dụng như một phần của phác đồ phối hợp thuốc kháng virus thích hợp ở bệnh nhân đồng nhiễm HIV/HBV. Bệnh nhân có rối loạn chức năng gan từ trước, bao gồm cả viêm gan mạn tính đang hoạt động, có tần suất bất thường về chức năng gan tăng lên trong quá trình điều trị bằng liệu pháp kháng virus kết hợp (CART) và cần được theo dõi theo thực hành tiêu chuẩn. Nếu có bằng chứng bệnh gan nặng hơn ở những bệnh nhân này, phải xem xét việc gián đoạn hoặc ngừng điều trị. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng việc tăng ALT có thể là một phần của quá trình thanh thải HBV trong quá trình điều trị bằng tenofovir, xem phần trên Các đợt cấp của viêm gan.

Sử dụng với một số thuốc kháng virus viêm gan C

Sử dụng đồng thời tenofovir disoproxil với ledipasvir/sofosbuvir, sofosbuvir/velpatasvir hoặc sofosbuvir/velpatasvir/voxilaprevir đã được chứng minh là làm tăng nồng độ tenofovir trong huyết tương, đặc biệt khi sử dụng cùng với phác đồ điều trị HIV có chứa tenofovir disoproxil và thuốc tăng cường dược động học (ritonavir hoặc cobicistat). Độ an toàn của tenofovir disoproxil trong điều trị ledipasvir/sofosbuvir, sofosbuvir/velpatasvir hoặc sofosbuvir/velpatasvir/voxilaprevir và chất tăng cường dược động học chưa được thiết lập. Cần xem xét những rủi ro và lợi ích tiềm ẩn liên quan đến việc sử dụng đồng thời ledipasvir/sofosbuvir, sofosbuvir/velpatasvir hoặc sofosbuvir/velpatasvir/voxilaprevir với tenofovir disoproxil dùng kết hợp với thuốc ức chế protease HIV tăng cường (ví dụ atazanavir hoặc darunavir), đặc biệt ở những bệnh nhân ở tăng nguy cơ rối loạn chức năng thận. Bệnh nhân dùng ledipasvir/sofosbuvir, sofosbuvir/velpatasvir hoặc sofosbuvir/velpatasvir/voxilaprevir đồng thời với tenofovir disoproxil và thuốc ức chế protease HIV tăng cường nên được theo dõi các phản ứng bất lợi liên quan đến tenofovir disoproxil.

Các thông số về cân nặng và trao đổi chất

Sự gia tăng cân nặng, nồng độ lipid và glucose trong máu có thể xảy ra trong quá trình điều trị bằng thuốc kháng virus. Những thay đổi như vậy một phần có thể liên quan đến việc kiểm soát bệnh tật và phong cách sống. Đối với lipid, trong một số trường hợp có bằng chứng về tác dụng điều trị, trong khi đối với vấn đề tăng cân thì không có bằng chứng mạnh mẽ nào liên quan đến bất kỳ phương pháp điều trị cụ thể nào. Để theo dõi lipid máu và glucose, cần tham khảo các hướng dẫn điều trị HIV đã được thiết lập. Rối loạn lipid nên được quản lý phù hợp về mặt lâm sàng.

Rối loạn chức năng ty thể sau khi tiếp xúc trong tử cung

Các chất tương tự nucleosid/nucleotid có thể tác động đến chức năng của ty thể ở nhiều mức độ khác nhau, rõ rệt nhất là với stavudin, didanosin và zidovudin. Đã có báo cáo về rối loạn chức năng ty thể ở trẻ sơ sinh âm tính với HIV phơi nhiễm với các chất tương tự nucleosid trong tử cung và/hoặc sau sinh; những điều này chủ yếu liên quan đến việc điều trị bằng các phác đồ có chứa zidovudin. Các phản ứng bất lợi chính được báo cáo là rối loạn huyết học (thiếu máu, giảm bạch cầu trung tính) và rối loạn chuyển hóa (tăng lactat máu, tăng lipid máu). Những sự kiện này thường mang tính tạm thời. Các rối loạn thần kinh khởi phát muộn hiếm khi được báo cáo (tăng trương lực, co giật, hành vi bất thường). Hiện chưa rõ những rối loạn thần kinh như vậy là thoáng qua hay vĩnh viễn. Những phát hiện này nên được xem xét đối với bất kỳ trẻ nào phơi nhiễm trong tử cung với các chất tương tự nucleos(t)ide, có biểu hiện lâm sàng nghiêm trọng không rõ nguyên nhân, đặc biệt là các phát hiện về thần kinh. Những phát hiện này không ảnh hưởng đến khuyến cáo quốc gia hiện nay về việc sử dụng liệu pháp kháng virus ở phụ nữ mang thai để ngăn ngừa lây truyền HIV theo chiều dọc.

Hội chứng kích hoạt lại miễn dịch

Ở những bệnh nhiễm HIV bị suy giảm miễn dịch nghiêm trọng tại thời điểm thực hiện CART, phản ứng viêm với các mầm bệnh cơ hội không có triệu chứng hoặc còn sót lại có thể phát sinh và gây ra các tình trạng lâm sàng nghiêm trọng hoặc làm nặng thêm các triệu chứng. Thông thường, những phản ứng như vậy đã được quan sát thấy trong vòng vài tuần hoặc vài tháng đầu tiên kể từ khi bắt đầu CART. Các ví dụ liên quan là viêm võng mạc do cytomegalovirus, nhiễm trùng mycobacteria toàn thân và/hoặc khu trú và viêm phổi do Pneumocystis jirovecii. Bất kỳ triệu chứng viêm nào cũng cần được đánh giá và điều trị khi cần thiết.

Các rối loạn tự miễn dịch (chẳng hạn như bệnh Graves và viêm gan tự miễn) cũng đã được báo cáo xảy ra trong bối cảnh tái kích hoạt miễn dịch; tuy nhiên, thời gian khởi phát được báo cáo thay đổi nhiều hơn và những biến cố này có thể xảy ra nhiều tháng sau khi bắt đầu điều trị.

Hoại tử xương

Mặc dù nguyên nhân được coi là do nhiều yếu tố (bao gồm sử dụng corticosteroid, uống rượu, ức chế miễn dịch nặng, chỉ số khối cơ thể cao hơn), các trường hợp hoại tử xương đã được báo cáo, đặc biệt ở những bệnh nhân mắc bệnh HIV tiến triển và/hoặc phơi nhiễm lâu dài với CART. Bệnh nhân nên được khuyên nên tìm tư vấn y tế nếu họ bị đau nhức khớp, cứng khớp hoặc khó cử động.

Người cao tuổi

Tenofovir disoproxil chưa được nghiên cứu ở bệnh nhân trên 65 tuổi. Bệnh nhân cao tuổi thường bị suy giảm chức năng thận; do đó cần thận trọng khi điều trị cho bệnh nhân cao tuổi bằng tenofovir disoproxil.

Tá dược

Sản phẩm có chứa lactose, bệnh nhân bị như rối loạn dung nạp galactose, thiếu Lapp lactase hoặc bất thường hấp thu glucose-galactose không nên sử dụng thuốc này. Sản phẩm có chứa dưới 1 mmol (23 mg) natri trong mỗi viên, về cơ bản được xem như "không chứa natri".

Khả năng lái xe và vận hành máy móc

Chưa có nghiên cứu nào được thực hiện về ảnh hưởng lên khả năng lái xe và vận hành máy móc. Tuy nhiên, bệnh nhân cần được thông báo rằng chóng mặt đã được báo cáo trong quá trình điều trị bằng tenofovir disoproxil.

Thời kỳ mang thai

Một lượng lớn dữ liệu về phụ nữ mang thai (hơn 1.000 trường hợp) cho thấy không có dị tật hoặc độc tính đối với thai nhi/trẻ sơ sinh liên quan đến tenofovir disoproxil. Các nghiên cứu trên động vật không cho thấy độc tính sinh sản. Việc sử dụng tenofovir disoproxil có thể được cân nhắc trong thời kỳ mang thai nếu cần thiết.

Trong tài liệu, việc tiếp xúc với tenofovir disoproxil trong ba tháng thứ ba của thai kỳ đã được chứng minh là làm giảm nguy cơ lây truyền HBV từ mẹ sang con nếu dùng tenofovir disoproxil cho người mẹ, bên cạnh globulin miễn dịch viêm gan B và vắc-xin viêm gan B ở trẻ sơ sinh. Trong ba thử nghiệm lâm sàng có đối chứng, tổng cộng 327 phụ nữ mang thai bị nhiễm HBV mạn tính được dùng tenofovir disoproxil (245 mg) một lần mỗi ngày từ tuần thứ 28 đến 32 của thai kỳ cho đến 1 đến 2 tháng sau sinh; phụ nữ và trẻ sơ sinh của họ được theo dõi tới 12 tháng sau khi sinh. Không có tín hiệu an toàn nào xuất hiện từ những dữ liệu này.

Thời kỳ cho con bú

Nói chung, nếu trẻ sơ sinh được quản lý đầy đủ để phòng ngừa viêm gan B khi sinh, người mẹ bị viêm gan B có thể cho con bú sữa mẹ.

Tenofovir được bài tiết qua sữa mẹ ở mức rất thấp và sự tiếp xúc của trẻ sơ sinh qua sữa mẹ được coi là không đáng kể. Mặc dù dữ liệu dài hạn còn hạn chế nhưng không có phản ứng bất lợi nào được báo cáo ở trẻ bú mẹ và mẹ nhiễm HBV sử dụng tenofovir disoproxil có thể cho con bú.

Để tránh lây truyền HIV sang trẻ sơ sinh, các bà mẹ nhiễm HIV không nên cho con bú bằng sữa mẹ.

Tương tác thuốc

Tương tác

Nghiên cứu tương tác chỉ được thực hiện ở người lớn.

Dựa trên kết quả của các thí nghiệm in vitro và con đường thải trừ đã biết của tenofovir, khả năng xảy ra tương tác qua trung gian CYP450 giữa tenofovir với các thuốc khác là thấp.

Phối hợp không được khuyến cáo

Không nên dùng đồng thời với các thuốc khác có chứa tenofovir disoproxil hoặc tenofovir alafenamid.

Tenofovir disoproxil không nên dùng đồng thời với adefovir dipivoxil.

Didanosin: Không nên dùng đồng thời tenofovir disoproxil và didanosin.

Thuốc thải trừ qua thận

Vì tenofovir chủ yếu được đào thải qua thận nên việc sử dụng đồng thời tenofovir disoproxil với các thuốc làm giảm chức năng thận hoặc cạnh tranh bài tiết hoạt động ở ống thận thông qua các protein vận chuyển hOAT 1, hOAT 3 hoặc MRP 4 (ví dụ cidofovir) có thể làm tăng nồng độ tenofovir trong huyết thanh và / hoặc các sản phẩm thuốc dùng đồng thời.

Nên tránh sử dụng tenofovir disoproxil khi sử dụng đồng thời hoặc gần đây với một sản phẩm thuốc gây độc cho thận. Một số ví dụ bao gồm, nhưng không giới hạn ở aminoglycosid, amphotericin B, foscarnet, ganciclovir, pentamidin, vancomycin, cidofovir hoặc interleukin-2.

Vì tacrolimus có thể ảnh hưởng đến chức năng thận nên cần theo dõi chặt chẽ khi dùng đồng thời với tenofovir disoproxil.

Các tương tác khác

Tương tác giữa tenofovir disoproxil và các thuốc khác được liệt kê trong bảng bên dưới (tăng được biểu thị là “↑”, giảm là “↓”, không thay đổi là “↔”, hai lần mỗi ngày là “bid” và một lần mỗi ngày là “qd”).

Xem theêm bảng tương tác trong tờ hướng dẫn sử dụng thuốc.

Tương kỵ

Do không có nghiên cứu về tính tương kỵ của thuốc, không trộn lẫn thuốc này với các thuốc khác.

Câu hỏi thường gặp Thuốc Tenofovir MCN 300mg

Thuốc Tenofovir MCN 300 thuộc nhóm dược lý và mã ATC nào?

Nhóm dược lý: Thuốc kháng virus dùng toàn thân; chất ức chế men sao chép ngược nucleosid và nucleotid.Mã ATC: J05AF07

Thuốc Tenofovir MCN 300 chỉ định điều trị trong trường hợp nào?

Thuốc Tenofovir MCN 300 được chỉ định trong điều trị nhiễm HIV-1 và viêm gan B mạn tính cho người lớn và thanh thiếu niên.

Thuốc Tenofovir MCN 300 có thể dùng chung với các thuốc nào để tránh tương tác nguy hiểm?

Không nên dùng đồng thời Tenofovir MCN 300 với các thuốc khác cũng chứa tenofovir, adefovir dipivoxil, hoặc didanosin. Cần đặc biệt thận trọng và tránh sử dụng cùng lúc hoặc gần thời điểm với các thuốc gây độc cho thận như aminoglycosid, amphotericin B, NSAIDs... Luôn thông báo cho bác sĩ về tất cả các loại thuốc đang sử dụng.

Tại sao cần xét nghiệm HIV trước khi bắt đầu điều trị viêm gan B bằng thuốc Tenofovir MCN 300?

Nên tiến hành xét nghiệm kháng thể HIV cho tất cả bệnh nhân nhiễm HBV trước khi bắt đầu điều trị bằng Tenofovir MCN 300. Điều này là để phòng ngừa nguy cơ phát triển tình trạng kháng thuốc HIV ở những bệnh nhân đồng nhiễm HIV/HBV nếu thuốc không được sử dụng như một phần của phác đồ kháng virus kết hợp phù hợp.

Cần làm gì nếu quên uống một liều Tenofovir MCN 300?

Nếu quên một liều Tenofovir MCN 300 trong vòng 12 giờ so với giờ uống thông thường, nên uống ngay liều đó cùng với thức ăn và tiếp tục lịch trình. Nếu đã quá 12 giờ và gần đến liều kế tiếp, nên bỏ qua liều đã quên và chỉ uống liều tiếp theo như bình thường, không uống bù liều.

Nội dung Y tế Được Kiểm Duyệt
Ngô Kim Thúy
Dược sĩ Đại học Ngô Kim ThúyGiảng viên Trung tâm Đào tạo FPT Long Châu

Tốt nghiệp loại giỏi trường Đại học Y Dược Huế. Từng tham gia nghiên cứu khoa học đề tài về Dược liệu. Nhiều năm kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực Dược phẩm. Hiện đang là giảng viên cho Dược sĩ tại Nhà thuốc Long Châu.

Nguồn dữ liệu: nhathuoclongchau

(*) Thông tin trên chỉ mang tính chất tham khảo. Vui lòng luôn tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc chuyên gia y tế để được tư vấn chính xác cho tình trạng sức khỏe cụ thể của bạn.