Deferoxamine

Số đăng ký / SKUdeferoxamine
Dạng bào chếDược chất

**Tên thuốc gốc (Hoạt chất)** Deferoxamine (Deferoxamin) **Loại thuốc** Thuốc giải độc do ngộ độc sắt, nhôm. **Dạng thuốc và hàm lượng** Thuốc tiêm: Lọ bột đông khô có chứa deferoxamine dưới dạng mesylate 500 mg.

Chưa có hình ảnh

Thành phần Deferoxamine: Thuốc điều trị tình trạng thừa sắt

Hoạt chấtHàm lượng / Nồng độ

Cách dùng Deferoxamine: Thuốc điều trị tình trạng thừa sắt

Liều dùng Deferoxamine

Người lớn

Ngộ độc sắt cấp:

  • Tiêm bắp 1 g lúc đầu, sau dùng tiếp 2 liều 0,5 g, cách nhau 4 giờ, tùy đáp ứng lâm sàng.
  • Có thể dùng thêm liều 0,5 g, mỗi 4 - 12 giờ, lên tới 6 g/ngày.
  • Hoặc tiêm tĩnh mạch với liều 15 mg/kg/giờ.

Thừa sắt mạn tính do truyền máu nhiều lần:

  • Tiêm bắp 0,5 - 1 g/ngày.
  • Ngoài ra, cho truyền tĩnh mạch chậm 2 g deferoxamine cho mỗi đơn vị máu được truyền nhưng phải cho riêng rẽ.
  • Tổng liều mỗi ngày không được quá 1 g khi không truyền máu hoặc 6 g khi truyền máu (ngay cả khi truyền ≥ 3 đơn vị máu hoặc khối lượng hồng cầu).
  • Nếu tiêm truyền dưới da bằng dụng cụ truyền có theo dõi, và mang theo người được, liều thường là 1 - 2 g (20 - 40 mg/kg).
  • Thời gian truyền phải tùy theo từng người bệnh. Ở một số người bệnh, lượng sắt bài xuất sau 8 - 12 giờ truyền bằng lượng sắt bài xuất sau 24 giờ truyền.

Điều trị các bệnh do tích lũy sắt khác (bao gồm cả nhiễm sắc tố sắt nguyên phát):

  • Liều lượng và số lần cho thuốc phụ thuộc vào mức độ nặng của bệnh và tốc độ đào thải sắt trong nước tiểu của từng người bệnh, liều deferoxamine 1 - 4 g/ngày cho tiêm truyền dưới da.

Chẩn đoán nhiễm sắc tố sắt nguyên phát:

  • Liều lượng 0,5 - 1 g hoặc 10 mg/kg cân nặng tiêm bắp và định lượng sắt bài xuất trong nước tiểu 24 giờ.
  • Bệnh nhân bị nhiễm sắc tố sắt nguyên phát bài xuất sắt trên 10 mg sắt trong nước tiểu 24 giờ.

Điều trị nhiễm độc thần kinh (như bệnh não) do nhôm và loạn dưỡng xương (bệnh nhuyễn xương) ở người suy thận mạn chạy thận nhân tạo:

Deferoxamine dùng lâu dài có thể làm chậm suy giảm chức năng (ví dụ mất khả năng thực hiện những nhiệm vụ cơ bản đời sống) ở người bị sa sút trí tuệ nhưng không được khuyến cáo vì gây nhiều tác dụng phụ:

  • Truyền trong 1 giờ, tuần 1 lần, vào đường truyền tĩnh mạch của mạch ngoài cơ thể một liều từ 10 - 20 mg/kg (0,8 - 1,2 g).
  • Một phần nhỏ deferoxamine sẽ được loại bỏ trực tiếp vào dịch thẩm tách.
  • Phần còn lại sẽ tạo phức với nhôm trong thời gian giữa 2 lần thẩm phân, và nhôm đã tạo phức với deferoxamine sẽ bị loại trong 2 buổi thẩm phân sau.
  • Thời gian điều trị trong nhiều tháng, và tiếp tục khi còn tác dụng. Hiệu quả được theo dõi bằng test deferoxamine mỗi 4 - 6 tháng 1 lần.

Trẻ em 

Ngộ độc sắt cấp:

  • Tiêm bắp 50 mg/kg/lần, 6 giờ một lần, tối đa 6 g/ngày.
  • Truyền tĩnh mạch 15 mg/kg/giờ, tối đa 6 g/ngày.

Thừa sắt mạn tính do truyền máu nhiều lần:

Giống liều người lớn.

Đối tượng khác 

Bệnh nhân suy gan: Không có khuyến nghị về liều lượng cụ thể tại thời điểm này.

Bệnh nhân suy thận: Không có khuyến nghị về liều lượng cụ thể tại thời điểm này.

Người lớn tuổi: Thận trọng khi lựa chọn liều lượng vì giảm chức năng thận, gan và/hoặc tim liên quan đến tuổi và bệnh đồng thời và điều trị bằng thuốc.

Cách dùng

Deferoxamine mesylate có thể tiêm bắp, truyền tĩnh mạch chậm, hoặc truyền dưới da qua 1 máy tiêm truyền định lượng mang đi được.

Tiêm bắp được dùng để điều trị nhiễm độc sắt cấp và cho tất cả các bệnh nhân không bị sốc. Nếu bệnh nhân bị suy tim, hoặc sốc, cần phải truyền tĩnh mạch chậm. Truyền tĩnh mạch phải chuyển sang tiêm bắp ngay khi có thể.

Không khuyến cáo truyền dưới da khi bị nhiễm độc sắt cấp. Trong điều trị nhiễm độc sắt mạn, deferoxamine có thể tiêm truyền chậm dưới da hoặc tiêm bắp; tiêm truyền dưới da được cho là phương pháp có hiệu quả hơn (thí dụ bệnh thalassemia).

Cách pha:

Bột vô khuẩn deferoxamine mesylate được hoàn nguyên bằng cách cho thêm 5 hoặc 2 ml nước vô khuẩn để tiêm vào 1 lọ chứa 500 mg thuốc để cho 1 dung dịch chứa 100 mg hoặc 250 mg/ml, tương ứng.

Dung dịch đã hoàn nguyên không pha loãng có thể tiêm bắp hoặc tiêm dưới da.

Để tiêm truyền tĩnh mạch, dung dịch hoàn nguyên phải được pha vào dung dịch natri clorid 0,9%, dung dịch dextrose 5% hoặc dung dịch Ringer lactate và cho truyền với tốc độ không được quá 15 mg/kg/giờ đối với 1000 mg đầu tiên. Về sau, tốc độ truyền tĩnh mạch không được vượt quá 125 mg/giờ.

Đối với truyền dưới da, tốc độ truyền phải tùy theo từng trường hợp nhưng thường từ 20 - 40 mg/kg trong 8 - 24 giờ: Thuận tiện nhất là cho truyền vào ban đêm khi phải truyền dưới da 8 - 12 giờ.

Nội dung Y tế Được Kiểm Duyệt
Nguyễn Vũ Kiều Ngân
Dược sĩ Đại học Nguyễn Vũ Kiều NgânGiảng viên TTĐT Long Châu

Tốt nghiệp Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. Có nhiều năm trong lĩnh vực dược phẩm. Hiện đang là giảng viên cho Dược sĩ tại Nhà thuốc Long Châu.

Nguồn dữ liệu: nhathuoclongchau

(*) Thông tin trên chỉ mang tính chất tham khảo. Vui lòng luôn tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc chuyên gia y tế để được tư vấn chính xác cho tình trạng sức khỏe cụ thể của bạn.