Hạ khô thảo (Cụm quả)
Hạ khô thảo có tên khoa học là Prunella vulgaris L. thuộc họ Lamiaceae (Hoa môi). Công dụng: Chữa lậu, tràng nhạc, lao hạch, viêm họng, ho, xích bạch đới, viêm gan, viêm tử cung, đái đường, mụn nhọt, cao huyết áp, sưng vú (cả cây sắc uống).
Thành phần Hạ khô thảo: Vị thuốc chữa lậu, tràng nhạc, lao hạch
| Hoạt chất | Hàm lượng / Nồng độ |
|---|
Công dụng Hạ khô thảo: Vị thuốc chữa lậu, tràng nhạc, lao hạch
Theo y học cổ truyền
Tính vị theo đông y: Vị đắng, cay, tính hàn, không độc, vào hai kinh can và đởm. Hạ khô thảo có tác dụng thanh can hỏa, tán uất kết, tiêu ứ sáng mất, làm thuốc chữa loa lịch, giải trừ nhiệt độc ở tử cung và âm hộ.

Cây Hạ khô thảo dùng chữa loa lịch, giải trừ nhiệt độc ở tử cung và âm hộ
Theo y học hiện đại
Tác dụng dược lý
Cửu Bảo, Điền Tinh Quang và Đào Thanh Cát (1940, Hòa hán dược dụng thực vật) đã thí nghiệm lấy các muối vô cơ trong nước sắc hạ khô thảo, chế thành thuốc tiêm, tiêm tĩnh mạch thỏ, lập tức thấy huyết áp hạ xuống, vận động hô hấp tăng lên, tác dụng lợi tiểu rõ rệt như các muối kali khác, do đó suy ra rằng sở dĩ hạ khô thảo có các dụng là do lượng muối kali khá cao. Hạ khô thảo có tác dụng hạ huyết áp lâu dài trên bệnh nhân và làm hết các triệu chứng khó chịu của bệnh cao huyết áp.
Người dân Trung Quốc dùng nấu nước uống thay nước trà.
Tài liệu cổ nói vị hạ khô thảo có tác dụng chữa loa lịch (lở loét, tràng nhạc, mụn nhọt, dò ở trên đầu) rất có công hiệu.
Bản thảo cương mục của Lý Thời Trân có kể một trường hợp ông dùng chữa bệnh nhức mắt rất công hiệu như sau:
- Người con trai đau ở trong con người, nhức cả bên quãng xương đầu lông mày và sưng đau thêm nửa đầu, dùng Hoàng liên nhỏ vào lại càng đau thêm, uống các thứ thuốc khác cũng đều không công hiệu, liền dùng ngải cứu ở các huyệt quyết âm, thiếu dương tức thời khỏi đau ngay, nhưng cách đó chỉ nửa ngày lại đau, cứ nhùng nhằng như thế tới hơn một tháng, liền dùng hạ khô thảo 2 lạng (80g), hương phụ 80 gam, cam thảo 16 gam, cùng tán bột mịn, ngày uống 6 gam, uống khỏi miệng đau dứt ngay, dùng liên tục 4 - 5 ngày bệnh khỏi hẳn.
Công dụng
Hạ khô thảo thường dùng trị đau mắt hay chảy nước mắt, tràng nhạc (lao hạch), bướu cổ, sưng vú, viêm tử cung và âm hô, gan mật nhiệt, huyết áp cao, viêm thần kinh da, lở ngứa, mụn nhọt, hắc lào, vẩy nến, tiểu tiện ít không thông. Ngày dùng 6 – 12g, dạng thuốc sắc, dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác.
Ở Trung Quốc, người dân thường trị đái buốt, lao hạch, đau mắt phong sưng đỏ; ngoài ra, hạ khô thảo cũng trị được cao huyết áp, giữ mức hạ áp được lâu, giảm bớt bệnh buồn rầu chủ quan.
Ở Pháp, người ta dùng uống trong trị đái đường, dùng ngoài chữa mụn nhọt, đau thắt, viêm họng, viêm miệng.
Cách dùng Hạ khô thảo: Vị thuốc chữa lậu, tràng nhạc, lao hạch
Những bài thuốc dùng hạ khô thảo trong nhân dân:
Chữa tràng nhạc, mã đao: Hạ khô thảo 5 lạng (200g) đun lấy nước đặc uống, uống trước khi ăn cơm 2 giờ. (Bài thuốc trích trong sách “Tiết thị ngoại khoa - bản thảo cương mục”). Cũng bệnh trên, có thể dùng hạ khô thảo, hương phụ, bối mẫu, viên chí cùng đun lấy nước đặc uống rất hay, không nên coi thường (sách “Kinh nghiệm phương - bản thảo cương mục”).
Chữa xích bạch đới: Hạ khô thảo tán nhỏ, mỗi lần uống 8g với nước cơm (sách ‘Từ thị phương’).
Chữa tràng nhạc (loa lịch): Hạ khô thảo 8g, cam thảo 2g, nước 3 bát (600ml) sắc còn 200ml chia 3 lần uống trong ngày.
Thông tiểu tiện: Hạ khô thảo 8g, hương phụ tử 2g, cam thảo 1g, nước 600ml, sắc còn 200ml chia ra 3 lần uống trong ngày.
Bị đánh hay bị thương dùng hạ khô thảo tươi, tán nhỏ đắp vào vết thương.
Có thể dùng chữa bệnh cao huyết áp với liều 6 - 15g dưới dạng thuốc sắc.
Từng làm ở Viện ISDS, nhiều năm cộng tác với CDC Thái Nguyên triển khai dự án phòng chống HIV/AIDS, 2 năm cộng tác với WHO.
Nguồn dữ liệu: nhathuoclongchau