Chè vằng
Chè vằng có công dụng trong điều trị cảm, mụn nhọt, đau bụng, hậu sản, phong thấp, đau nhức xương, ghẻ lở, chốc đầu, bệnh ngoài da. Ngoài ra, Chè vằng còn dùng cho phụ nữ sau khi sinh bị nhiễm trùng, sốt cao hay viêm hạch bạch huyết.
Thành phần Chè vằng: Cây thuốc dược quý tốt cho mẹ sau sinh
| Hoạt chất | Hàm lượng / Nồng độ |
|---|
Công dụng Chè vằng: Cây thuốc dược quý tốt cho mẹ sau sinh
Theo y học cổ truyền
Chè vằng có vị chát, hơi đắng, tính ấm, vào hai kinh: tâm, tỵ, có tác dụng thanh nhiệt, lợi thấp, khu phong, điều kinh, hoạt huyết, tiêu viêm, trừ mủ.
Theo y học hiện đại
Trong thử nghiệm in vitro, Chè vằng ức chế khá mạnh sự phát triển của các chủng vi khuẩn: Tụ cầu vàng, liên cầu khuẩn tan máu, Shigella dysenteriae, S.shigae, Achromobacter, trực khuẩn thương hàn và ức chế yếu hơn đối với trực khuẩn mủ xanh.
Chè vằng cũng có tác dụng ức chế trên in vitro đối với sự phát triển của nhiều chủng vi khuẩn được phân lập từ bệnh phẩm kháng với những thuốc kháng sinh thông dụng như: Liên cầu tan máu, tụ cầu vàng, Staphylococcus albus, S.epidermidis.
Chè vằng cũng có tác dụng bảo vệ chuột nhắt trắng kháng lại nhiễm khuẩn máu gây bởi trực khuẩn thương hàn, làm tăng có ý nghĩa tỷ lệ chuột sống sót. Trong nghiên cứu lâm sàng, Chè vằng có tác dụng dự phòng và điều trị nhiễm khuẩn sau khi sinh nở, áp xe vú do tắc tia sữa.
Chè vằng còn có tác dụng chống viêm trên những mô hình gây phù cấp tính bàn chân với kaolin, gây u hạt mạn tính với amiăng ở chuột cống trắng. Ở thỏ, dược liệu làm giảm sốt gây bởi natri nucleinat. Ở chuột cống trắng, dược liệu thúc đẩy nhanh quá trình lành của vết thương, dự phòng loét dạ dày trên mô hình thắt môn vị.
Chè vằng gây tác dụng lợi mật trên chuột lang, làm giảm co bóp tự nhiên của tử cung, giảm co thắt ruột gây bởi bari clorid, acetylcholin trên chuột cô lập. Trong những thử nghiệm về độc tính, cấp tính và mãn tính, dược liệu biểu hiện rất ít độc.
Bệnh viện Thái Bình có làm kháng sinh đồ để so sánh penicilin 1 đơn vị quốc tế trong 1ml với streptomycin 20γ trong 1 ml, chlorocid 50γ trong 1ml với sulfamid, kết quả cho thấy dây Vằng có tác dụng kháng sinh mạnh hơn các thuốc trên đối với tụ cầu khuẩn (Staphylococcus) và liên cầu khuẩn tan huyết (Streptococcus hemolytique). Dây Vằng còn được dùng để chữa áp xe vú tại bệnh viện này (Nguyễn Văn Lờ, Y học thực hành 11-1963: 14-15).
Cách dùng Chè vằng: Cây thuốc dược quý tốt cho mẹ sau sinh
Nhân dân nhiều tỉnh dùng lá Vằng phơi khô nấu hoặc pha nước uống hằng ngày, hoặc cho phụ nữ sau khi sinh uống nhằm đem lại tác dụng lợi sữa và phòng các nhiễm khuẩn sau đẻ. Cũng có nơi dùng lá nấu nước tắm cho trẻ con để trị ghẻ lở.
Tại Miền Nam, nhân dân dùng lá chữa sưng vú cho phụ nữ mới sanh nở uống, và chữa rắn cắn. Rễ được mài với dấm thanh để làm hết mủ những ung nhọt đã nung mủ. Liều uống hằng ngày là khoảng 20 – 30 g lá khô; nếu dùng ngoài thì không kể liều lượng.
Chè vằng dùng để điều trị kinh nguyệt không đều, bế kinh hoặc khi thấy kinh đau bụng, sau khi đẻ bị nhiễm khuẩn sốt cao, viêm hạch bạch huyết, viêm tử cung và tuyến vú, khí hư bạch đới, áp xe vú. Còn dùng trị phong thấp do huyết kém, đau nhức khớp xương, ghẻ lở, vàng da, chốc đầu, các bệnh ngứa ngoài da, rắn cắn. Ngày dùng khoảng 40 – 100g cây tươi hoặc 20 – 30g dược liệu khô dưới dạng thuốc sắc hay nấu nước tắm, liều lượng không hạn chế.
Kinh nghiệm dùng lá Chè vằng để trị bệnh của bệnh viện Thái Bình: Dùng lá Chè vằng giã nát, rồi đắp vào nơi áp xe. Ngày đắp 3 lần, đêm đắp 2 lần. Thời gian điều trị thông thường là từ 1 ngày đến 1 tuần tùy theo tình trạng bệnh và thời gian bắt đầu chữa bằng lá chè vằng. Trung bình khoảng 1,5 – 2 ngày. Bệnh nhân điều trị bằng Chè vằng thường sẽ hết sốt sau 2 giờ dùng thuốc, sau khi khỏi bệnh thì công thức máu và số lượng bạch cầu trở lại bình thường, sữa cũng trở lại bình thường.
Từng làm ở Viện ISDS, nhiều năm cộng tác với CDC Thái Nguyên triển khai dự án phòng chống HIV/AIDS, 2 năm cộng tác với WHO.
Nguồn dữ liệu: nhathuoclongchau