Hoa ngũ sắc
Bông ngũ sắc là một loài thực vật có hoa thuộc họ cỏ roi ngựa Verbenaceae, có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới châu Mỹ. Nó đã được nhập vào các nơi khác trên Thế giới như một loại cây cảnh và được coi là một loài xâm lấn ở nhiều vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Các tên gọi khác của bông ngũ sắc như bông ổi, tứ thời, tứ quý (Quảng Bình), cây hoa cứt lợn,…
Thành phần Bông ngũ sắc: Loại hoa có nhiều tác dụng chữa bệnh
| Hoạt chất | Hàm lượng / Nồng độ |
|---|
Công dụng Bông ngũ sắc: Loại hoa có nhiều tác dụng chữa bệnh
Theo y học cổ truyền
Theo Đông y, bông ngũ sắc có tác dụng:
- Lá bông ngũ sắc có mùi hôi, tính mát, hơi độc, có tác dụng hạ sốt, giải độc, tiêu sưng.
- Hoa có bị ngọt nhạt, tính mát, có tác dụng cầm máu.
- Rễ có vị ngọt dịu, đắng, tính mát, có tác dụng hạ sốt, tiêu độc, giảm đau.
Theo y học hiện đại
Kháng khuẩn, kháng nấm
Các nghiên cứu được thực hiện ở Ấn Độ đã phát hiện ra rằng lá bông ngũ sắc có biểu hiện kháng khuẩn, thuộc tính diệt nấm và diệt côn trùng.
Chống oxy hoá
Bhakata và cộng sự (năm 2009) đã nghiên cứu rằng chiết xuất metanol và etanol trong in vivo và in vitro của bôngngũ sắc cho thấy hoạt động chống oxy hóa đáng kể. Trong đó dịch chiết lá thể hiện hoạt tính chống oxy hóa mạnh. Chiết xuấtmetanol từ thân cây cho thấy hoạt động chống oxy hóa yếu hơn.
Tẩy giun sán
Girme và cộng sự (năm 2006) nghiên cứu rằng nhiễm giun sán là một trong những bệnh nhiễm trùng thường gặpnhất ở nam giới. Trên những con giun được chọn, sử dụng chiết xuất lá liên tiếp của bông ngũ sắc cho thấy hoạt động tẩy giun đáng kể.
Chữa lành vết thương
Abdulla và cộng sự (năm 2009) đã nghiên cứu hoạt tính chữa lành vết thương in vivo của chiết xuất lá etanolic trên chuột Wistar đực trưởng thành. Ứng dụng tại chỗ của chiết xuất lá trên vết thương cho thấy hoạt động chữa lành vết thương ngày càng tăng. Sử dụng mô hình tạo vết thương cho thấy chiết xuất từ lá có hoạt động chữa lành vết thương đáng kể ở chuột. Bôi chiết xuất lên vết thương làm tăng đáng kể tốc độ co vết thương, tổng hợp collagen và rút ngắn thời gian lành vết thương.

Bông ngũ sắc có hoạt tính chữa lành vết thương
Kháng lao
Misra và cộng sự (năm 2006) đã nghiên cứu rằng hoạt tính kháng lao đa kháng thuốc trong ống nghiệm của bông ngũ sắc. Hoạt động của vi khuẩn Mycobacteria đã được nghiên cứu trên người nhiễm HIV. Phương pháp khuếch tán trong môi trường thạch được sử dụng để ước tính nồng độ ức chế tối thiểu và hiệu lực của chất chiết xuất được so sánh với thuốc tiêu chuẩn.
Chống viêm và giảm đau
Millycent và cộng sự (năm 2017) đã nghiên cứu rằng hoạt tính chống viêm và giảm đau in vivo của chiết xuất nước bông ngũ sắc đã được nghiên cứu trên mô hình động vật. Theo công trình của nhà nghiên cứu, hoạt động chống viêm đã được nghiên cứu bằng cách sử dụng chuột bị phù phổi và viêm màng phổi do carrageenan gây ra, trong khi đó, tác dụng giảm đau được nghiên cứu bằng cách sử dụng xét nghiệm giảm đau bằng formalin ở chuột. Liều dùng cho thấy tác dụng độc hại tối thiểu đáng kể, hoạt động chống viêm và giảm đau. Chiết xuất metanol của lá và vỏ cây đã được sàng lọc về hoạt động giảm đau bằng mô hình phù chân ở chuột do carrageenan và histamine gây ra. Liên quan đến hoạt động hạ sốt, chiết xuất ethyl axetat và etanolic bắt đầu giảm nhiệt độ cơ thể từ 1,5 giờ.

Bông ngũ sắc có tác dụng giảm đau, kháng viêm trên mô hình chuột
Chống ung thư
Badakhsan và cộng sự (năm 2011) nghiên cứu rằng, hoạt tính chống ung thư in vitro. Các chiết xuất dung môi khác nhau như petroleum ether, cloroform, etanol và dịch chiết nước của bông ngũ sắc được sàng lọc hoạt tính chống ung thư, trong chiết xuất etanolic đó cho thấy hiệu quả tốt hơn. Bằng xét nghiệm MTT, chiết xuất từ rễ và lá đã được nghiên cứu chống lại tế bào ung thư bạch cầu Jurkat.
Chống đột biến
Barre và cộng sự (năm 1997) nghiên cứu rằng, in vivo bông ngũ sắc thể hiện hoạt tính kháng đột biến với các hợp chất axit 22β-acetoxylantic và axit 22β-dimethylacrylacryloxy lantanolic. Trên chuột Thụy Sĩ, thử nghiệm khả năng chống đột biến được thực hiện bằng thử nghiệm vi nhân. Axit 22β-acetoxylantic và axit 22β-dimethylacrylacryloxy lantanolic cả hai hợp chất đều cho thấy hoạt tính kháng đột biến cao trong Mytomycin C gây đột biến ở chuột.
Tác dụng chống sốt rét in vitro
Vỏ rễ bông ngũ sắc có tác dụng khá với IC là 5 - 10ug/ml, mạnh nhất trong số 49 cây thuốc chữa sốt rét trong y học Tanzania.
Tăng nhu động ruột
Cao nước của lá bông ngũ sắc gây co cơ trơn, mức độ co phụ thuộc vào nồng độ của thuốc.
Cách dùng Bông ngũ sắc: Loại hoa có nhiều tác dụng chữa bệnh
Lá ngũ sắc hỗ trợ chữa táo bón, sốt, làm ra mồ hôi, viêm phế quản xuất tiết. Ngày 20 - 30g cây tươi, sắc uống.
Dùng ngoài đắp vết thương, lở loét hoặc cầm máu. Còn dùng lá giã đắp hoặc nấu nước để rửa chữa ghẻ lở, viêm da, các vết chàm. Lá chườm nóng hỗ trợ chữa thấp khớp.
Hoa làm giảm triệu chứng ho, lao kèm ho ra máu và cao huyết áp. Ngày dùng 12g.
Rễ trị sốt lâu không dứt, quai bị, phong thấp, đau xương, đau răng, chấn thương bầm dập, khí hư. Ngày 30 - 60g cây tươi, sắc uống.

Tuỳ thuộc vào loại bệnh cần chữa mà bộ phận dùng và liều lượng của bông ngũ sắc sẽ khác nhau
Tốt nghiệp Đại học Dược Hà Nội, nhiều năm đảm nhiệm vị trí tư vấn dược phẩm và sức khỏe. Hiện đang là giảng viên cho Dược sĩ tại Nhà thuốc Long Châu.
Nguồn dữ liệu: nhathuoclongchau