Ô Rô

Số đăng ký / SKUo-ro
Dạng bào chếDược liệu

Cây ô rô thuộc họ Cúc Asteraceae và là một loại dược liệu lâu năm được tìm thấy ở nhiều nơi như Việt Nam, Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản. Trong Y học cổ truyền, cây ô rô được sử dụng rộng rãi là có tác dụng cầm máu. Trong nghiên cứu Y học hiện đại, chúng đã được chứng minh là có tác dụng bảo vệ gan, chống ung thư, chống đái tháo đường và chống oxy hóa,…

Chưa có hình ảnh

Thành phần Cây ô rô (đại kế): Vị thuốc cổ truyền có nhiều công dụng

Hoạt chấtHàm lượng / Nồng độ

Công dụng Cây ô rô (đại kế): Vị thuốc cổ truyền có nhiều công dụng

Tác dụng của cây rô tô theo y học cổ truyền

Theo Y học cổ truyền, cây ô rô có vị ngọt, đắng, tính mát, vào kinh Tâm và Can, có tác dụng lương huyết, cầm máu, tán ứ, tiêu sưng tấy.

Cây ô rô được dùng chữa các dạng xuất huyết, chảy máu cam, ho ra máu, lao, nôn ra máu, đái ra máu, xuất huyết tử cung, băng lậu. Còn chữa viêm gan, viêm vú, thông sữa, viêm phù chân, ung thũng, cao huyết áp.

Tác dụng của cây rô tô theo y học hiện đại

Bảo vệ gan

Năm 2016, Qin Ma và cộng sự đã nghiên cứu tác dụng bảo vệ của flavonoid từ cây ô rô chống lại tổn thương gan bằng cách sử dụng carbon tetrachloride (CCl4) gây tổn thương tế bào gan, với silymarin làm đối chứng dương. Silymarin là hỗn hợp các flavonoid từ Silybum marianum. Kết quả chỉ ra rằng flavonoid từ cây ô rô có thể đảo ngược đáng kể sự suy giảm khả năng sống sót của tế bào L02 do CCl4 gây ra tương tự như silymarin. Phân tích flavonoid của cây ô rô và silymarin cho thấy hai hỗn hợp này có thể chứa một thành phần chung, có thể là thành phần hoạt chất chính chịu trách nhiệm về tác dụng bảo vệ gan của chúng.

Cây ô rô (đại kế): Vị thuốc cổ truyền có nhiều công dụng 4.png

Cây ô rô có tác dụng bảo vệ gan

Chống ung thư

Cây ô rô được tách và tinh chế bằng một số kỹ thuật sắc ký và hai hợp chất flavon là pectolinarin và 5,7-dihydroxy-6,4′-dimethoxyflavone, được cô lập. Hàm lượng của hai hợp chất này trong dịch chiết metanol, etanol và dịch chiết nước lần lượt được xác định bằng HPLC như sau: Pectolinarin 1,87%, 1,65%, 1,27%; 5,7-dihydroxy-6,4′-dimethoxyflavone: 0,515%, 0,42%, 0,221%. Hơn nữa, tác dụng của hai flavon đối với hoạt động chống ung thư ở chuột S180 và H22 đã được nghiên cứu. Nghiên cứu của Sujun Liu và cộng sự (2007) cho thấy hai flavon này ức chế đáng kể sự phát triển của tế bào ung thư. Tỷ lệ ức chế ở chuột S180 là 55,77% với liều 50 mg/kg-1 và tỷ lệ kéo dài sự sống là 99,13% với liều 50 mg/kg-1 ở chuột H22.

Chống đái tháo đường

Zhiyong Liao và cộng sự (2010) phân lập hai flavon từ cây ô rô là pectolinarin và 5,7-dihydroxy-6,4'-dimethoxyflavone, và nghiên cứu tác dụng điều trị đái tháo đường của chúng ở chuột mắc bệnh đái tháo đường (được tạo ra bằng cách tiêm tĩnh mạch streptozotocin, sau đó cho ăn chế độ ăn nhiều carbohydrate/nhiều chất béo. Cả pectolinarin và 5,7-dihydroxy-6,4'-dimethoxyflavone đều cho thấy tác dụng trị đái tháo đường ở chuột mắc bệnh đái tháo đường. Tuy nhiên, hỗn hợp pectolinarin và 5,7-dihydroxy-6,4'-dimethoxyflavone, có hiệu quả hơn pectolinarin và 5,7-dihydroxy-6,4'-dimethoxyflavone đơn lẻ trong việc cải thiện nồng độ glucose, cholesterol và chất béo trung tính trong huyết tương ở mô hình chuột bệnh đái tháo đường. 

Hoạt động thay đổi của các enzyme liên quan đến chuyển hóa glucose ở chuột mắc bệnh đái tháo đường đã được đảo ngược hoàn toàn sau khi điều trị bằng flavon. Nồng độ adiponectin trong huyết tương tăng lên đáng kể ở chuột mắc bệnh đái tháo đường được điều trị bằng hỗn hợp pectolinarin và 5,7-dihydroxy-6,4'-dimethoxyflavone, trong khi không thấy tác dụng rõ ràng của flavon đối với mức độ insulin trong huyết tương bị điều hòa và biểu hiện của leptin và GLUT4. Flavon trong cây ô rô cải thiện biểu hiện adiponectin, kèm theo việc khôi phục các hoạt động bị điều hòa của các enzyme liên quan đến chuyển hóa glucose, cuối cùng dẫn đến cải thiện tốt cân bằng nội môi glucose và lipid.

Cây ô rô (đại kế): Vị thuốc cổ truyền có nhiều công dụng 5.png

Cây ô rô có tác dụng chống bệnh đái tháo đường

Cách dùng Cây ô rô (đại kế): Vị thuốc cổ truyền có nhiều công dụng

Liều dùng hằng ngày: Cây và rễ khô 40 - 60g, cây tươi 100 đến 180g. Có thể dùng 6 - 12g loại cây khô sắc uống cùng với các vị thuốc khác.

Nội dung Y tế Được Kiểm Duyệt
Đỗ Viết Chung
Dược sĩ Đại học Đỗ Viết ChungGiảng viên TTĐT Long Châu

Tốt nghiệp Đại học Dược Hà Nội, nhiều năm đảm nhiệm vị trí tư vấn dược phẩm và sức khỏe. Hiện đang là giảng viên cho Dược sĩ tại Nhà thuốc Long Châu.

Nguồn dữ liệu: nhathuoclongchau

(*) Thông tin trên chỉ mang tính chất tham khảo. Vui lòng luôn tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc chuyên gia y tế để được tư vấn chính xác cho tình trạng sức khỏe cụ thể của bạn.